Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

Nghệ thuật làm phim Silenced



Một bộ phim thành công ngoài việc nhà đạo diễn tìm nội dung hay, đánh động vào tâm lý người xem cùng diễn xuất ấn tượng của dàn diễn viên thì việc tạo ra những cú “ghi điểm” trong lòng người thông qua kỹ thuật dựng phim cực kỳ tinh tế càng làm bộ phim tăng thêm tính nghệ thuật, triết lý. Khi xem xong một bộ phim, ta không thể nào nhớ rõ từng chi tiết các trình tự của chúng nhưng với những cảnh ấn tượng, làm hài lòng người xem từ trang phục đến màu sắc, từ các bày trí đồ vật đến âm thanh, góc độ quay, diễn xuất...đã khiến bộ phim thật sự đi vào lòng người một cách tinh tế. Có những cảnh quay trở thành kinh điển cho nghệ thuật điện ảnh bởi mỗi sự xuất hiện, thay đổi trong phim ở cảnh đều thể hiện ý đồ của đạo diễn, tạo nên giá trị khổng lồ cho nền nghệ thuật. Bộ phim Silenced là một minh chứng tiêu biểu cho nghệ thuật dựng phim này. Với cách sắp đặt cảnh quay, âm thanh, màu sắc qua từng góc nhìn nhân vật, bộ phim đã lấy đi bao nước mắt của khán giả trước sự khủng khiếp của nạn ấu dâm của Hàn Quốc thời bấy giờ, tác động mạnh vào xã hội và nhà cầm quyền.



Silenced được chuyển thể từ tiểu thuyết Dogani của nhà văn Kong Ji Young viết năm 2009. Sau khi nghe lời giới thiệu của diễn viên Gong Yoo về truyện, đạo diễn Hwang Dong Hyuk lập tức lên ý tưởng và triển khai thực hiện bộ phim này, chuyển những trang sách lên màn ảnh rộng điện ảnh. Câu chuyện được viết dựa trên sự việc có thật tại một ngôi trường hẻo lánh nuôi dạy trẻ khuyết tật vùng Gwangju. Nơi đó, những đứa trẻ bất hạnh thường xuyên bị bạo hành tình dục bởi chính những người thầy đang dạy mình. Nơi đó, những con người vô nhân tính đấy cứ đem đứa trẻ ra hành hạ như một sự giải tỏa. Bộ phim kể về hành trình tìm lại công lý cho những đứa trẻ xấu số đó của thầy giáo Kang In Ho – giáo viên dạy mỹ thuật biết thủ ngữ. Gia cảnh thầy In Ho khá khó khăn về kinh tế, vợ mất đi để lại đứa con gái bệnh suyễn nặng cùng bà mẹ già. Thế nhưng công việc chật vật khiến thầy không có tiền gửi về nhà lần nào. Khi được thầy giáo sư giới thiệu đến dạy tại trường tỉnh lị Mujin (ngôi trường dành cho trẻ khuyết tật), In Ho lập tức nhận lời ngay và bắt đầu công việc bằng chính sự nhiệt tâm của một người thầy. Đằng sau ngôi trường im ắng đó là sự thật khủng khiếp, những đức trẻ không nói được, không nghe được hằng ngày phải sống trong sự sợ hãi về mối đe dọa xâm phạm. Từng đoạn phim được ghi lại qua lời kể của Kim Yeon Du và Jin Yu Ri – hai đứa bé gái bị thầy hiệu trưởng giở trò đồi bại ngay trong trường, trong phòng làm việc, Jeon Min Su – đứa bé trai bị thầy chủ nhiệm đánh đập dã man vì tội “không nghe lời” trước những hành động ấu dâm khủng khiếp, mất nhân tính. Cậu em trai của Min Su vì ốm yếu và không chịu được cú sốc sau những lần ấy đã lao đầu vào xe lửa để kết thúc cuộc đời ghê rợn của mình. Dưới sự giúp sức của Yoo Jin – cô gái làm việc tại trung tâm Bảo vệ nhân quyền vùng Mujin , sự thật được phơi bày, những bộ mặt giả nhân dần lộ diện. Thế nhưng, ánh sáng không nghiêng về họ, tội lỗi của kẻ mất nhân tính được pháp luật khoan hồng và không bị trừng trị thích đáng, để lại nỗi đau trong lòng mỗi đứa trẻ. Không chấp nhận sự thật, Min Su đã tự tay giết chết người đã vấy bẩn cuộc đời em và tự vẫn cùng ông ta trên đường ray xe lửa. Cuối truyện, vụ việc vẫn chưa đến hồi kết, những lần phúc thẩm thất bại và những tên mất nhân tính kia vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật, câu chuyện vẫn bỏ ngỏ.

Phim Silenced là sự kết hợp hoàn mỹ từ yếu tố dàn cảnh đến nghệ thuật quay phim, từ hình ảnh dựng phim đến âm thanh phối hợp. Bên cạn đó, phần diễn xuất của diễn viên, đặc biệt là diễn viên nhí đã khiến người xem không khỏi ngỡ ngàng, thán phục trước những thước phim tâm lý.

Một cảnh trong Silenced

Mỗi cảnh quay, đạo diễn đều đặt vào đó ẩn nghĩa đại diện cho cảnh quay đó. Ngay từ đầu phim, cảnh u tịch hiện ra khi hai sự việc diễn ra song song như đều đến cái kết giống nhau, đó là sự hủy diệt. Đạo diễn đã rất khéo léo khi xây dựng cảnh người thầy đầu tiên đến Mujin trong làn sương mờ không thấy lối đã vô tình cán chết con nai bên đường. Bên cạnh đó, hình ảnh một cậu bé với đôi mắt đượm buồn, thất thểu đi trên đường ray và bị đoàn tàu đâm vào. Hai hình ảnh đó khiến người xem ngay từ lúc đầu đã không nhận ra được đâu là thật bởi nếu không nhìn rõ, người đọc sẽ nhầm tưởng người thầy đã cán chết cậu bé. Thật thật, giả giả ở cảnh này thật khó phân biệt. Một tín hiệu không lành khác cho bộ phim chính là khi thầy In Ho bước vào căn phòng của thầy hiệu trưởng, toàn bộ cảnh văn phòng được quay ngược lên, tức người xem nhìn từ phía trên xuống, trái hẳn với mắt nhìn hiện thực, tất cả được thu gọn vào camera được gắn trên trần nhà. Chỉ một chi tiết lắp đặt nhỏ thế những ta cũng thấy được sự bất thường nơi này, đó chính là ĐIỀU NGHỊCH LÝ khi tồn tại trong ngôi trường man rợ này. Đến khi vụ án kiện tụng đến hồi kết, camera này chính là vật chứng duy nhất có thể khiến vụ kiện được thắng. Nhưng nào ai ngờ, chính cái vật nhỏ xíu trên trần nhà ghi lại tất cả hành động đồi bại của thầy hiệu trưởng với bé Yu Ri lại đập tan hy vọng của họ khi mà luật sư bên họ đã vì danh, vì lợi mà bán đi lương tâm làm nghề, bán đi danh dự và niềm hy vọng của những đứa trẻ. Căn phòng của vị lãnh đạo này luôn lập lòe bởi một thứ ánh sáng vàng vọt nhưng thiếu sự ấm áp, chỉ độc một cây đèn ngủ lúc nào cũng mở dù ban ngày. Khi những người trong căn phòng ấy trò chuyện, dường như đạo diễn đã rất “cố gắng” để đủ ánh sáng, nhìn rõ khuôn mặt người nói. Một cảnh khác trong phim cũng khiến người xem ngay từ đầu đã có mối ngờ hoặc trong ngôi trường đó chính là phòng của ban hành chính. Với cách bày trí căn phòng vô cùng lộn xộn, những giấy tờ công văn cứ chồng lên, xốc xếch mỗi bàn, gây khó khăn cho người vào đủ thấy được sự bất bình thường trong cách tổ chức một cơ quan, đơn vị bởi phòng hành chánh là phòng sao lưu những hồ sơ quan trọng, nắm việc vận hành cả một cơ quan. Đặc biệt ở cuối phim, khi Min Su mất, cuộc biểu tình dành lại quyền thắng đã diễn ra trong sự đàn áp gay gắt của lực lượng công an, khung cảnh hỗn loạn, người người phẫn nộ trước phán quyết đấy. Người xem không thể không vỡ òa trước cảnh thầy In Ho cầm di ảnh của trò Min Su hồn nhiên, liên tục gọi tên và nhắc mọi người nhớ đến em. Khi tấm ảnh rơi xuống, bị đạp nát cũng là lúc thầy gục ngã trong tuyệt vọng.

Màu sắc chủ đạo sử dụng trong bộ phim này là gam màu tối với những lối đi mờ ảo, với những căn phòng chỉ có ánh đèn hiu hắt trong không gian rộng lớn để thấy được rằng các em khiếm thính đáng thương này phải luôn sống trong cảnh bị cái ác, cái xấu vùi dập và không có tiếng nói. Tuy nhiên, có một cảnh mà đạo diễn dường như dành cả ánh sáng cho bộ phim ở đấy chính là lúc cô bé Yeon Du bị thầy hiệu trưởng dồn đến đường cùng, chạy đến nhà vệ sinh trốn nhưng bị thầy phát hiện. Lúc thầy nhìn thấy bé trong căn phòng áp cuối, đôi mắt sợ hãi ướt sũng, miệng không ngừng hét lên trong không trung, gương mặt non nớt ấy như một thiên thần bị nỗi sợ áp chế. Tất cả ánh sáng đều tập trung ở gương mặt em trong vòng một giây để rồi vụt tắt đi trong niềm tuyệt vọng nhưng để lại ấn tượng cho người xem. Em đã không thể chống lại sự tàn bạo.

Nữ diễn viên nhí Kim Hyun Soo trong vai Yeon Du

Đằng sau những thước phim tuy đơn giản đó là cả một bộ phận kỹ thuật quay phim với tính nghệ thuật cao. Nhìn chung, tốc độ phim khá chậm để nhân vật có đủ thời gian trải lòng, gặm nhắm những thống khổ trong thời gian qua. Có lúc sự vồn vã của thời gian xét xử vụ án làm tăng lên nhịp độ của phim. Chẳng hạn, khi thầy phát hiện camera trong phòng, máy quay đã không ngừng tua lại khuôn mặt của ba nhân vật với ba trạng thái khác nhau, đại diện cho ba số phận khác nhau: gương mặt và tiếng kêu thất thanh của bé Yu Ri khi bị thầy hãm hại, gương mặt thỏa mãn dục vọng của thầy và gương mặt kinh hãi của In Ho. Ba hình ảnh đó cứ liên tục thay đổi với tốc độ chóng mặt đã in sâu vào tâm trí người xem, khiến chúng trở nên sợ hãi hơn bao giờ hết. Một khía cạnh khác, thuật phối cảnh viễn cận để tạo ra khuôn hình rõ ràng của phim cũng là một cách để đạo diễn truyền tải được nội dung và tầm ý nghĩa. Ở cảnh bãi biển, khi những đứa trẻ đã tật nguyền về thể xác thì nay lại phải gánh chịu những tổn thương về tinh thần được chơi đùa, nhà sản xuất cố tình đặt máy quay ở góc quay rộng nhất từ đầu phim để thấy được rằng, qua mỗi phiên xét xử, dù thế nào đi nữa thì chân trời rộng mở đấy vẫn chờ đợi các em, một không khí thoáng đãng hơn, ánh sáng cũng dịu nhẹ, sáng và ấm áp hơn kết hợp với tiếng sóng, tiếng nhạc êm dịu bao trùm cả không gian đó. Tuy các em không nghe thấy, không nói lên được tiếng lòng nhưng qua cử chỉ nét mặt, người xem hiểu các em nghe và nói bằng chính trái tim. Ở đó, các em được bình yên dưới sự che chở của hai người tốt, ở đó các em được vẫy vùng trước sự rộng lớn, mênh mông của biển cả. Đó là chân trời của các em.

Để trải dài những dòng suy nghĩ, cảm xúc, đạo diễn đã có những pha kéo dài thời gian chiếu của cảnh quay. Nhịp của quay phim từ đó cũng thể hiện rất chậm qua từng cử chỉ, thái độ. Cảnh thầy In Ho nghe lời người mẹ khuyên, đem tặng chậu lan mà thầy hiệu trưởng trường thích để công việc được thuận lợi hơn được chiếu chậm đến hết mức. Bởi trước khi bước vào căn phòng đó, thầy đã nhìn thấy cảnh thầy chủ nhiệm lôi Min Su đi để tiếp tục những đòn tra tấn vì tội “không nghe lời”. Trước ranh giới mong manh của cái thiện (giành lại cậu bé đổi lại tương lai đên tối) hoặc đến gần với cái ác (thảnh nhiên như không có gì xảy ra tiếp tục tiến vào tặng chậu hoa lan cho hiệu trưởng), chỉ vài giây để suy nghĩ và quyết định nhưng cảnh phim đó kéo dài đến hai phút. Những cái vẫy tay mời gọi trong phòng hiệu trưởng, tiếng đá trong chậu hoa rơi dần trên đất, tiếng bước đi nện thẳng xuống nền gạch như đang trút giận của thầy cay nghiệt làm tâm trí In Ho rối bời, và thầy đã quyết định, đập thẳng chậu hoa vào đầu tên thầy đồi bại, mặc cho tương lai công việc kết thúc tại đó. Hơn thế nữa, ở cảnh phiên tòa xét xử kết thúc với những mức án quá nhẹ cho kẻ mất nhân tính, hình ảnh bên kiện nhốn nhào không bình tĩnh, xô xát với công an, hình ảnh những đứa trẻ dù cố gắng đến mấy chúng vẫn phải thiệt thòi vì công lý không dành cho chúng khóc ròng, đau khổ, tuyệt vọng, hình ảnh bé Yu Ri mắc bệnh ăn vặt thản nhiên ngậm kẹo, hình ảnh bên thắng kiện ăn mừng, đọc kinh thánh chúc mừng nhau… tất cả đều được máy quay quay rất chậm, rất kỹ, xét rõ từng cử chỉ của người tham gia phiên tòa. Nỗi đau đó cứ kéo dài mãi, vô tận, vô cùng trước niềm vui sướng của những kẻ phạm tội. Đấy là thời gian để người xem nghiền ngẫm, nhìn lại chuyện gì đã xảy ra giữa thời này?

Trước khi nổi tiếng với Train To Busan, diễn viên Gong Yoo đã vào vai thầy giáo In Ho đầy ấn tượng trong Silenced

Một bộ phim đánh động tâm lý người xem như thế không thể thiếu âm thanh. Ở phim này, âm thanh đã phát huy tối đa sức mạnh chẳng kém gì những cảnh quay. Âm nhạc chủ đạo được sử dụng trong phim có âm vực trầm, như một bài hát buồn dành tặng cho những đứa trẻ đáng thương. Những bài hát, nhạc nền trong phim tuy khác nhau về nhịp điệu nhưng chúng đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi cảnh, mỗi thời điểm khác nhau, nhà làm phim đều có những trường đoạn âm thanh riêng biệt và được lọc rất kỹ. Chẳng hạn, vào lúc tên hiệu trưởng có hành động xấu với bé Yeon Du, tiếng kêu cứu kéo dài, ngân vang cả hành lang thảm thiết của bé kết hợp với tiếng nhạc rất nhẹ mang đầy tính liêu trai khiến người xem hồi hộp đến từng bước chân của In Ho. Tiếng lê đôi chân cùng tiếng nhạc thúc bách khi Yu Ri kéo thầy In Ho đến nơi Yeon Du bị đẩy vào máy giặt tạo hiệu ứng cho người xem. Tất cả âm thanh trong bộ phim đều không thừa, không thiếu bất cứ quãng nào. Để tạo được sự chân thật trong cảnh quay, đạo diễn sử dụng rất nhiều đoạn âm thanh bao quanh, đó là tiếng la hét, lộn xộn, mỗi khi phiên tòa kết thúc, đó là khi kết quả cuối cùng được phán quyết không thỏa lòng người mong đợi, đó là khi nỗi tức giận về xã hội đã dân đến tột cùng, họ đứng dậy đấu tranh để phần nào vơi đi cơn giận dữ. Mỗi cảnh như vậy, hàng trăm ngàn âm thanh bao quanh được dựng ra kết hợp với tiếng nhạc nhẹ tạo nên không khí vô cùng ngột ngạt, vồn vã. Âm thanh sử dụng hay nhất là lúc hội đồng thẩm phán kiểm tra thính giác của bé Yeon Du. Họ để bé nghe một bài hát, nếu bé nghe thì giơ tay lên. Và trước sự im lặng của mọi người, bài hát vang lên như khúc dạo buồn cho những cảnh đời bất hạnh. Phải chăng, đây là lúc bé thấm thiá câu nói mà thầy In Ho từng nói: “Những điều đẹp đẽ và kỳ diệu nhất trên thế giới này, không thể được nhìn hay được nghe, mà phải được cảm nhận bằng trái tim”. Bé đã nghe được bài hát trước sự ngỡ ngàng của mọi người và đôi mắt căm thù của kẻ gây ra bao tội lỗi. Bên cạnh đó, âm thanh trong phim còn thể hiện ở những nốt cao, người xem sẽ “nổi da gà” khi nghe tiếng băng keo được xé ra để trói tay chân bé Yu Ri của thầy hiệu trưởng. Lúc ấy, tiếng kêu của bé bị tắt đi, chỉ còn trơ tiếng xé ghê rợn, tác động mạnh vào tâm lý người xem hơn là lồng thêm vào tiếng kêu. Tất cả âm thanh trong phim đều có sự kết hợp với cảnh quay, nhằm liên kết với hình ảnh khơi cảm xúc cho người xem.

Với những cống hiến to lớn cho nền điện ảnh Hàn Quốc như thế, Silenced xứng đáng được nhận những giải thưởng cao quý như Giải Âm nhạc hay nhất (2011), Phim hay nhất tại Hàn Quốc (2011), Giải khán giả bầu chọn ở Undie Far East Film…Bộ phim thật sự như cú tát vào nền giáo dục và xã thời bấy giờ, lên án gay gắt những tên ấu dâm mất hết tính người và sự vô tình của những kẻ ham danh, ham lợi, mặc cho công lý mãi bị vùi lấp. Song hành với điều bất nhẫn đó, phim cũng dành ra những thước phim tươi vui, hồn nhiên, thấy được nụ cười của những đứa trẻ đáng thương đó bước ra từ vùng tâm tối, mở ra chân trời mới cho các em để phần nào xoa dịu nỗi đau mà các em phải gánh chịu.

Văn Kim Hoàng





Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Split

Split
Chấm điểm: 3/4.
Người viết: Christy Lemire.
Khởi chiếu tại Việt Nam từ 17/02/2017.



Khi xem một bộ phim của M. Night Shyamalan, khán giả song song và đồng thời để mắt tìm điểm thắt nút tất yếu của phimKiểu thắt nút này đã trở thành lệ với mỗi bộ phim của đạo diễn kiêm biên kịch Shyamalan, kể từ khi tác phẩm đầu tay nổi như cồn The Sixth Sense - Giác quan thứ sáu ra mắt gần hai thập kỉ trước. Ta tự hỏi: Ông sẽ làm ta bất ngờ bằng cách nào đây? Ta nên tìm kiếm những manh mối gì? Nút thắt lần này liệu có hiệu quả hay không? 


Xét tới những nỗ lực tầm tầm như The VillageLady in the Water hay những lần chệch khỏi quỹ đạo như The Last Airbender và After Earth vô vị, không hề mang chút dấu ấn nào của Shyamalan, thì với câu hỏi cuối ở trên, câu trả lời thường là “Không hẳn”. Thế nên, bộ phim mới nhất của ông mang tên Split - Tách biệt đã đánh dấu một sự trở lại đầy cảm xúc. Một phim kinh dị thuần túy hiếm hoi của Shyamalan, cũng là một lời nhắc nhớ ấn tượng về trình độ kĩ thuật thượng thừa của ông. Tay nghề quay phim xuất chúng của Shyamalan được phô diễn trọn vẹn, bắt nguồn từ niềm yêu kính trọn đời ông dành cho Alfred Hitchcock, bao gồm cả việc chính mình thủ một vai diễn khách mời như thường lệ. Và dù  phim không có nút thắt lớn nào, thì điểm thắt nút vẫn là một trong những phần thú vị nhất của Split.

Cách kể chuyện cũng như tiết tấu của Splitkhá gọn và căngso với phong cách gần đây của Shyamalan. Mặc cho thời lượng đến gần hai tiếng, mạch phim như luôn luôn tiến triển, kể cả khi dẫn những cảnh hồi tưởng để cung cấp cho người xem những góc nhìn khác nhau.

Shyamalan dường như luôn giàu năng lượng, dù cho ông đang trong hoàn cảnh khó khăn. Thành công của phim phần nhiều nhờ vào diễn xuất thiên tài của James McAvoy trong vai một kẻ bắt cóc tên Kevin mang trong mình đến 23 nhân cách khác nhau.

Từ gã thợ bảo trì Dennis bị chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế đến cậu nhóc chín tuổi Hedwig nghịch ngợm, từ bà Patricia người Anh ra vẻ đoan chính đến anh chàng fashionista Barry người New York bảnh chọe, McAvoy thổi hồn vào tất cả những nhân vật này theo một cách tuy phải nói là hơi quá đà nhưng vẫn rất thú vị. Dù đôi chỗ hơi “kịch”, nhưng diễn xuất của anh  sự uyển chuyển và chính xác tuyệt vời. Anh phải thực hiện nhiều thay đổi từ lớn tới nhỏ, nhiều khi cùng lúc, một cảnh tượng làm mê mẩn người xem..


James McAvoy vào vai tên sát nhân với 23 nhân cách khác nhau

Cách diễn tả một nội tâm rối ren của McAvoy là hài hước hoá những điều tồi tệ nhưng cũng buồn đến không ngờ. Cho dù bị nhân cách nào điều khiển thì Kevin cũng đáng sợ như nhau; nhưng những chấn thương tâm lý từ lúc bé rõ ràng vẫn còn ám ảnh anh khi đã trưởng thành, những chấn thương đã buộc anh phải hình thành một loạt nhân cách để tự vệ. Một tâm hồn mong manh dễ bị tổn thương dần tự phơi bày ở hồi ba1tạo nên một sắc thái hoàn toàn khác khiến khán giả không khỏi rùng mình.

Phim bắt đầu bằng một vụ bắt cóc được Shyamalan dàn dựng hiệu quả và hấp dẫn. Ba nữ sinh trung học lên xe về nhà sau một buổi tiệc sinh nhật ở trung tâm thương mại: Claire và Marcia xinh xắn nói cười luôn miệng (Haley Lu Richardson trong phim The Edge of Seventeenvà Jessica Sula), và một Caseye dè ít nói (Anya Taylor-Joy) được mời đi chỉ vì người ta thấy thương hại cho cô. Nhưng cả ba nhanh chóng nhận ra người ngồi sau vô-lăng không phải bố của Claire mà là Kevin. Hắn lập tức đánh bất tỉnh ba người và lôi họ về sào huyệt tạm bợ của hắn, sâu dưới lòng đất.

Cứ mỗi lần Kevin xuống thăm tù nhân, giọng nói cũng như tính cách của hắn lại thay đổi. Ba cô gái dần nhận ra kẻ bắt cóc bị chứng đa nhân cách, duy chỉ có Casey, người đã trở thành thủ lĩnh nhanh trí củabộ ba, là có gan lân la làm quen với hắn. Màn trình diễn thuyết phục của Taylor-Joy trong các phim The Witch và Morgan đã cho ta thấy rằng, ngay cả khi hoàn toàn bất động thì chỉ với đôi mắt to hình quả hạnh ấy, cô cũng có thể tỏ ra đáng gờm ngang ngửa James McAvoy. Cô nâng nhân vật Casey thoát khỏi ngưỡng một nữ anh hùng điển hình ta thường cổ vũ trong các phim kinh dị, đặc biệt nhờ sự trợ giúp của những cảnh hồi tưởng cho thấy cô đã học được những bản năng sinh tồn bằng cách nào. Các bạn diễn của cô không được ưu ái nhiều đất diễn đến thế, cũng không được chăm chút phần phục trang bằng cô.


Taylor-Joy (trái) trong vai Casey - người duy nhất dám đương đầu với tên sát nhân

Ta cũng hiểu hơn về tình trạng tâm lý của Kevin thông qua các buổi trị liệu hằng ngày mà hắn (hay nói đúng hơn là một nhân cách của hắn) sắp xếp với nhà tâm lý học Fletcher (nữ diễn viên tao nhã và đa cảm Betty Buckley thủ vai). Là một nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này, bà tin rằng chứng đa nhân cách không phải là khuyết tật, mà là biểu thị của một bộ não đầy tiềm năng. Những cuộc đối thoại giữa hai người, dù căng thẳng và quyết liệt, là khoảng nghỉ yên bình giữa những thước phim bạo lực.

Chúng cũng giúp ta tìm ra lời giải cho bài toán này (thật ra là nhiều bài toán khác nhau cùng lúc). Đó là câu hỏi Kevin muốn gì ở những cô gái, hay các cô gái sẽ trốn thoát bằng cách nào. Nhưng yếu tố căn bản tạo nên không khí hãi hùng của cả bộ phim lại chính là cách mà các nhân cách tương tác với nhau, thao túng và dọa dẫm nhau, và câu hỏi liệu có hay không một thế lực còn đen tối hơn đang trỗi dậy.

Nhạc phim của West Dylan Thordson và âm thanh rùng rợn được thiết kế chuyên nghiệp góp phần giúp Split trở thành một trải nghiệm sởn gai ốc ngay từ lúc bắt đầu. Tuy nhiên phim hơi chững lại lúc về cuối với những mánh lới và trùng hợp ngẫu nhiên, cũng như với hướng làm phim dễ dãi -khai thác quá mức phần tuổi thơ bất hạnh để tạo cảm xúc rẻ tiền. Tôi vẫn đang đánh vật với những cảm xúc chồng chéo về bộ phim, nhưng tôi biết mình ra về mà vẫn thấy lấn cấn, dù phim rất cuốn hút cả về mặt nội dung và kĩ thuật.

Dù sao đi nữa, Shyamalan tìm lại được chỗ đứng sau chừng ấy năm vẫn là việc đáng mừng. Hãy nán lại đến phút chót để xem ông còn giấu tài phép gì trong tay áo nhé.

----------

Chú thích:

1.      Kịch bản phim thường có bố cục ba hồi: thiết lập, phát triển và hạ màn.
Dịch: Nguyễn Bích Hà.
Hiệu đính: Lê Nguyên Thảo.


Nguồn: http://www.rogerebert.com/reviews/split-2017

Thứ Bảy, 18 tháng 2, 2017

Moonlight

Chấm điểm: 4/4.
“Này, anh là ai?”1

Phim chính kịch bấy lâu nay vẫn say sưa với chủ đề bản ngã, nhưng hiếm khi nào vấn đề đó lại được khai thác hùng hồn và đẹp đến thắt lòng như trong tuyệt tác của Barry Jenkins mang tên Moonlight - Ánh Trăng, một trong những phim tính túy do Mỹ sản xuất năm 2016. Moonlight là một bộ phim trữ tình mà vẫn không xa rời khỏi tuyến nhân vật, một sự cân bằng đáng chiêm ngưỡng. Đây là một trong số ít tác phẩm điện ảnh vừa toàn tâm toàn ý tập trung vào nhân vật, mà đồng thời vẫn tạo cảm giác rằng nó đang chạm tới những chủ đề vĩ mô như bản ngã, xu hướng tình dục, gia đình, và trên tất cả, là nam tính. Thế nhưng phim không dạy đời cũng không giáo điều. Nó là một b phim phản ánh những chủ đề sâu sắc, phức tạp đó đầu tiên và trước hết qua hệ thống nhân vật. Phim của Jenkins tự tin ở mọi khía cạnh mà một nhà phê bình có thể dùng từ này để miêu tả. Từng phân đoạn diễn xuất, từng cảnh phim, từng đoạn nhạc, từng khung cảnh ấm áp quen thuộc - đây là một trong những phim hiếm hoi không vướng phải lỗi nào, và đạt tới cao trào không phải bằng cảnh kĩ xảo máy tính hay bằng thắt nút trong kịch bản, mà bằng một cuộc đối thoại thuộc hàng những cảnh xuất sắc nhất trong nhiều năm trời.
Nhân vật chính của “Moonlight” phản ánh sự nam tính đầy mâu thuẫn và bất ổn của thanh niên da màu ở Mỹ, thậm chí ngay trong cách anh được giới thiệu. Bộ phim được phân thành ba chương: “Oắt con”, “Chiron” và “Đen”, ba cái tên cùng chỉ một người mà ta sẽ theo chân từ lúc ấu thơ rồi tuổi thiếu niên đến trưởng thành. Một cậu bé, và sau này là một người đàn ông, chật vật tìm chỗ đứng giữa thế giới; một nhân vật được ghép nối bởi sự diễn xuất của ba diễn viên riêng biệt, đều là những diễn viên tài năng
Phim bắt đầu khi Chiron còn bé (Alex R. Hibbert), bọn bắt nạt ở trường gọi cậu là “Oắt con”. Ta thấy cậu bé đang chạy trốn vào một căn hộ bịt ván kín mít, mong trốn khỏi đám trẻ đang đuổi đánh. Ở đó Oắt con được tìm thấy bởi Juan (vai diễn để đời của Mahershala Ali), tên buôn ma túy địa phương. Juan dẫn cậu bé đi ăn, còn đưa cậu về chỗ của hắn, ở đó cậu gặp bạn gái hắn tên Teresa (Janelle Monáe). Oắt con thích gia đình tạm bợ này. Cha cậu mất rồi, còn mẹ cậu, Paula (Naomie Harris), tình cờ lại là khách hàng ruột của Juan. Juan gần như trở thành người cha thứ hai, nhưng mối quan hệ này không dễ đoán như vậy. Juan nhìn thấy có điều gì đó tốt đẹp ở Chiron và muốn giúp đỡ cậu nhóc ít nói này, dù hắn đang cung cấp món hàng hủy hoại cuộc sống gia đình cậu.
Phim nhảy sang giai đoạn Chiron đang tuổi thiếu niên, đối mặt với sự bắt nạt còn dữ dội hơn và những câu hỏi về xu hướng tình dục. Đó là những năm mà ai ai cũng khoe chiến tích tình trường lừng lẫy, còn một thiếu niên như Chiron (giờ do Ashton Sanders thủ vai) lại vật lộn đi tìm bản thân, nhất là khi giờ đây mọi ảo tưởng về một gia đình bình thường đã tiêu tan. Cậu hoàn toàn tay trắng, tứ cố vô thân, và duy có sự tử tế từ người bạn Kevin (lúc này do Jharrel Jerome đóng) mới mang lại được chút bình yên. Nhưng kể cả điều đó cũng không còn khi mà lòng trắc ẩn thật quá khan hiếm vào thời buổi này, ở nơi này và lứa tuổi này, khi mà người trẻ tin rằng bạo lực chính là câu trả lời giúp xoa dịu họ và cho phép họ hòa nhập.
Cuối cùng, ta gặp Chiron ở tuổi trưởng thành, được thể hiện với sự tinh tế rất ấn tượng bởi Trevante Rhodes. Kevin (giờ là diễn viên André Holland trong phim “The Knick”) tìm đến một Chiron đã rất khác xưa, và mọi chủ đề của phim hòa quyện lại thật âm vang và đầy cảm xúc mà không cần đến độc thoại nội tâm hay nhạc kịch khiên cưỡng. Theo một cách nào đó, “Moonlight” là chuyện đời của một cậu bé bên lề xã hội, một thằng nhóc nhạt nhẽo không ai thèm chơi cùng và cũng chẳng có gia đình ở bên, cứ thế mà tan vào đêm.
Bộ ba diễn xuất tạo nên nhân vật Chiron từ Hibbert, Sanders đến Rhodes đều được Jenkins gọt giũa cẩn thận. Ông đã chỉ đạo rằng họ không cần bắt chước y hệt nhau mà phải chuyển tải được sự trưởng thành. Ta có thể thấy đôi mắt u buồn của cậu bé Chiron vẫn còn phảng phất ở người đàn ông Chiron. “Moonlight” có nguy cơ trở nên rời rạc, đặc biệt khi ba diễn viên cùng đóng một nhân vật, nhưng thật kinh ngạc là phim không hề bị ngắt quãng. Jenkins đã làm việc với các diễn viên để tạo ra sự liền mạch từ chương này sang chương khác, ngay cả khi dàn cast có thay đổi thường xuyên. Ông cũng tìm ra được những màn hóa thân tuyệt vời từ Ali và Harris - hai diễn viên thủ vai những người có ảnh hưởng to lớn nhất trong đời Chiron.
Jenkins cùng đội ngũ quay phim quay hình một Miami ta không thường được thấy, sử dụng bối cảnh rất tài tình, đặc biệt là cách nước và bãi biển giống như một khoảng nghỉ giữa những bộn bề của thế giới. Nhưng “Moonlight” là phim về những mặt người. Đôi mắt của Chiron nói lên bao điều không ai dạy cậu làm sao để diễn tả thành lời. Trẻ, nghèo, đồng tính và gần như không có bạn bè - cậu là kiểu người như chỉ chực tan biến đi vì thật nhạt nhòa lạc lõng giữa dòng đời. Trong những cuộc đối thoại đáng nhớ của “Moonlight” (do Jenkins viết, phóng tác từ vở kịch của Tarell McCraney), Chiron có nói cậu khóc nhiều đến mức cậu có cảm giác mình sẽ tan thành nước mà lăn vào lòng đại dương.
“Moonlight” quả là có lời thoại rất đáng nhớ, nhưng những điều không thốt ra mới thực sự để lại dư âm. Đó là vẻ mặt của một người cha hờ bất hảo khi đứa bé hỏi hắn tại sao những đứa trẻ khác lại chế nhạo nó. Đó là cái liếc mắt lo âu giữa hai người trẻ, biết rằng mối quan hệ này có gì đó khác biệt nhưng xã hội vẫn chưa cho họ được từ ngữ nào để diễn tả nó. Và cảnh cuối cùng - khi mà Jenkins biết rằng ông đã làm xong phần nền móng, giờ tin tưởng vào diễn viên và để cho cảm xúc của những điều chưa nói trở thành cú hích mạnh mẽ, cảnh cuối cùng đó là lúc phim đạt sức công phá cao nhất. Jenkins hiểu một cách sâu sắc rằng chính mối liên kết giữa con người với con người là thứ tạo nên chúng ta, thay đổi con đường ta đi và làm ta trở nên như ngày hôm nay.
Người viết: Brian Tallerico.
Người dịch: Bích Hà.
Hiệu đính: Lê Nguyên Thảo.
Bài gốc: http://www.rogerebert.com/reviews/moonlight-2016


1.         Nguyên gốc là “Who is you, man?”, lời thoại trong phim và sai ngữ pháp có chủ đích.

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Những tranh cãi đằng sau cô công chúa mới mang tính đột phá của Disney

Moana đã tạo nên làn sóng thành công vang dội, nhưng tương lai cho các nữ chính của xưởng phim này sẽ như thế nào?
Cover phim Moana

Moana là một bộ phim đột phá cho Disney, bởi đây là lần đầu tiên xưởng phim này có một cô công chúa đến từ Polynesia – Đa Đảo, nhưng như thế vẫn chưa hết. Nhân vật chính còn sở hữu một thân hình “trung bình” chứ không có vòng eo con kiến hay tay chân dài thượt bất thường như các nàng công chúa trước đó. Khi vừa mới công chiếu ở các rạp, phim đã nhận được nhiều nhận xét tích cực, trong đó tạp chí Slant đã khen ngợi rằng nàng công chúa mới nhất này “không nổi loạn kiểu ích kỷ, cũng không ngây thơ đến mức tưởng cuộc đời toàn màu hồng.”

 Rebecca Hains, tác giả của cuốn “The Princess Problem: Guiding Our Girls through the Princess-Obsessed Years” (tạm dịch là Vấn nạn Công chúa: Hướng dẫn Con gái Chúng ta Vượt qua những Năm bị Công chúa Ám ảnh) nhìn nhận một cách chắc chắn rằng vẻ ngoài của Moana là một sự tiến bộ. Bà nói: “Theo tôi việc này có ý nghĩa rất lớn. Rõ ràng Disney đã biết tiếp thu các ý kiến phê bình. Việc ngày càng có nhiều nữ chính với thân hình trung bình xuất hiện trên màn ảnh là rất quan trọng; và đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy Disney đã bắt đầu thực sự lắng nghe những băn khoăn của các bậc phụ huynh.


Thế nhưng Debbie Schlussel, một cây bút bảo thủ và đồng thời là người dẫn talk show lại thấy một Moana đậm người là ví dụ của “political correctness” đi quá xa. Bà nói: “Tôi nghĩ nó (bộ phim) làm các bé gái nghĩ rằng chúng không cần phải có thân hình thon gọn. Nó khiến các em sau này có một lối sống thiếu lành mạnh cũng như một đời sống lứa đôi nhàm chán.” 


Vấn nạn công chúa


Nhân vật thần thoại của phim tên Maui, một á thần trong các truyền thuyết ở vùng nam Thái Bình Dương, cũng bị chỉ trích vì quá to béo và bóp méo hình tượng người Đa Đảo. Nhưng các cô công chúa nhà Disney mới rơi vào tầm ngắm đặc biệt bởi những nhân vật này có ảnh hưởng không hề nhỏ đến tâm trí các bé gái.


“Có những bé mới hai, ba tuổi đã muốn làm công chúa,” Hains nói. “Các em bị ám ảnh và thực sự đồng nhất bản thân mình với những nàng công chúa đó. Hơn nữa các em không thể nào có được mẫu thân hình mà những phim này cho là lý tưởng.


Hình tượng nhân vật Maui
Công chúa Disney luôn đại diện cho những mối lo ngại hay thái độ văn hóa vào thời điểm phim được phát hành. Những năm 1930 là lúc Walt Disney trình làng Bạch Tuyết, nàng công chúa đầu tiên. Bạch Tuyết là hiện thân cho quan niệm đang thịnh hành về phụ nữ thời kì đó: phụ nữ là phải e ấp thẹn thùng, phải thụ động. Thực tế thì các nhân vật nữ thời kì đầu hay được nhắc đến như Lọ Lem hay Người đẹp Ngủ trong Rừng đều bị coi là những nàng công chúa Disney yếu đuối nhất vì họ toàn dựa dẫm vào chàng bạch mã hòang tử.

Sau Người đẹp Ngủ trong Rừng năm 1959, Disney không có thêm cô công chúa nào đến tận 30 năm sau, khi mà phong trào nữ quyền đã đạt được vài dấu ấn. Kỉ nguyên công chúa sau đó đã thêm vào các yếu tố nữ quyền, cũng như nhiều nét truyền thống hơn. Tỉ dụ như Nàng tiên cá Ariel cũng ít nhiều cho thấy sự độc lập, nhưng đến cuối lại từ bỏ giọng hát để được gần người trong mộng.


Tương tự như vậy, nhân vật Belle trong Người đẹp và Quái vật cũng thể hiện ý chí mạnh mẽ khi không chịu sống theo khuôn mẫu của cộng đồng. Nhưng cô mất đi cá tính của mình từ lúc tiếp nhận thế giới qua góc nhìn của Quái vật.


Không chỉ có phong trào đòi nữ quyền là có ảnh hưởng đến công chúa Disney. Quyền của thổ dân châu Mỹ đã được củng cố trong vòng hai thập kỉ từ giữa những năm 1970 với việc chính phủ thông qua luật bảo vệ quyền và lợi ích của các bộ tộc. Thế là vào năm 1995, Poncahontas xuất hiện. Nàng là công chúa đầu tiên của Disney mang dòng máu da đỏ và được coi là một trong những cô công chúa độc lập nhất từng được tạo ra.


Pocahontas chắc chắn là một kiểu nhân vật hoàn toàn khác biệt, khác ở chỗ cô không phải được định hình bằng các mối quan hệ yêu đương và cô chủ động hơn rất nhiều. Pocahontas cũng là một trong những công chúa đầu tiên đóng một vai trò tích cực trong việc trị vì.” Lời phát biểu trên là của Megan Codis, trợ giảng môn Tiếng Anh ở Trường đại học Stephen F. Austin State, người đặc biệt quan tâm đến lịch sử các cô công chúa nhà Disney.


Dù vậy Pocahontas không phải là không gây ra tranh cãi. Phim nhận nhiều chỉ trích vì tính dục hóa hình tượng người phụ nữ và bóp méo lịch sử.

Nàng công chúa da đỏ Pocahontas
Năm 1998 đánh dấu sự ra đời của một cô công chúa gan dạ nữa: Mộc Lan. Hoàn toàn xa lạ với khái niệm e ấp thẹn thùng, Mộc Lan trở thành người hùng trong chính câu chuyện của mình, thậm chí còn mặc giáp xông trận.

Thế giới phải chờ mãi đến tận 2009 Disney mới giới thiệu công chúa người Mỹ gốc Phi đầu tiên, đó là Tiana trong Công chúa và Chàng Ếch. Khát vọng của nàng khá khác biệt so với những người trước đó.


“Cô không mơ được cưới hoàng tử và trị vì vương quốc, mà cô ấy mơ được mở nhà hàng”, Codis nói. Nhưng không phải ai cũng tán thành Tiana. “Tôi nghe nhiều người trong cộng đồng gốc Phi phàn nàn rằng lần đầu tiên có một công chúa da màu, thế mà phần lớn thời gian cô ấy lại là một con ếch.” Rebecca Hains nói thêm.

Công chúa Tiana và hoàng tử Ếch
Nhưng mặc cho sự xuất hiện của ngày càng nhiều nữ anh hùng mạnh mẽ, họ lại không được nhắc đến nhiều bằng các công chúa truyền thống, nhất là trong các sản phẩm của Disney.

“Nếu bạn nhìn vào các dòng sản phẩm của Disney, ví dụ như hộp ăn trưa hay áo thun, bạn sẽ thấy Belle, Lọ Lem và Người đẹp ngủ trong rừng hay đứng chung với nhau. Mặc dù về lý thì Pocahontas và Mộc Lan vẫn là công chúa Disney nhưng họ lại rất hiếm khi xuất hiện trên những sản phẩm dạng này.” Codis giải thích.


Chúng ta là một gia đình


Có lẽ cô công chúa hiện đại nhất là Merida trong phim Brave (Công chúa Tóc xù) năm 2012. Điều nổi bật là lần đầu tiên có một phụ nữ đồng đạo diễn và đồng biên kịch một bộ phim hoạt hình công chúa. Merida được xem là thuộc về một nhóm tách biệt trong số các cô công chúa nhà Disney.


“Merida của Brave, Elsa  Anna của Frozen (Nữ hoàng Băng giá), kể cả Rapunzel của Tangled (Công chúa Tóc mây) – tất cả họ đều gan góc hơn, và lý tưởng của họ không nhất thiết có dính dáng đến chuyện yêu đương.” Rebecca Hains chỉ ra.


Poster phim Frozen
Frozen là bộ phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại, và cách nó tiếp cận tình yêu là đặc biệt đáng ghi nhận. Elsa thì không còn tâm trí nào nghĩ đến chuyện yêu khi còn bận kiểm soát năng lực siêu nhiên của mình, nhưng Anna đã trải qua một thay đổi lớn. Ban đầu, tình yêu là mối bận tâm hàng đầu của cô, nhưng chính sự gắn kết giữa hai chị em mới là động lực giúp phim tiến triển, và cuối cùng lại nổi lên thành ưu tiên số một. Trong Frozen, tình cảm quan trọng nhất là tình cảm giữa chị và em, còn chuyện gặp được bách mã hoàng tử chỉ là phụ.
Nàng công chúa Elsa trong Frozen
Vài người đã xem cuộc đấu tranh của Elsa để tìm “cái tôi” và kiểm soát siêu năng lực là hiện thân của một cái gì hoàn toàn khác. Không ít người thấy Elsa tương đồng với những thiếu niên và người trưởng thành đánh vật để chấp nhận bản năng giới tính của mình. Có lẽ nào Elsa là công chúa đồng tính nữ đầu tiên của Disney? Đây cũng là chủ đề của phong trào được Idina Menzel, người lồng tiếng của nhân vật ủng hộ. Vẫn chưa rõ liệu Disney có biến lời đồn thành sự thật trong phim Frozen 2 rất được ngóng đợi hay không, nhưng nếu đúng như vậy thì hẳn sẽ có nhiều tranh luận nổ ra.

Những nhà phê bình bảo thủ như Debbie Schlussel cho rằng Disney ngày càng xa rời khỏi những giá trị “nguyên bản và tốt đẹp” của nước Mỹ. “Xã hội của chúng ta đang rạn nứt vì Disney đã và đang cổ xúy nữ quyền”, bà nói thêm.


Mặc dù nhìn chung người hâm mộ có nhận thấy sự tiến bộ của công chúa Disney, họ cũng phải chấp nhận rằng những đặc điểm của các nhân vật gần đây đều là do ảnh hưởng từ bên ngoài chứ bản thân công chúa không tự quyết định sự thay đổi. Ví dụ như, Disney cho ra đời một công chúa chuyển giới vào thời điểm này là rất khó, nếu không muốn nói là việc bất khả thi. Nói thế không phải là không hiện hữu áp lực tạo ra những nàng công chúa đủ các kiểu và thể loại. Năm 2014 còn rộ lên phong trào kêu gọi phải có một công chúa mang hội chứng Down.


Moana và những nàng công chúa trước đó phản ánh những thái độ đang hồi thay đổi của nước Mỹ đối với các vấn đề sắc tộc, giới tính và ứng xử với nhóm thiểu số. Có lẽ Disney muốn cho Moana trở thành biểu tượng của thời đại này: một người phụ nữ can đảm và là sản phẩm của một nước Mỹ đa văn hóa. Nhưng phim được phát hành chỉ vài tuần sau cuộc bầu cử của ông Donald Trump. Điều đó có thể góp phần vào làn sóng phản ứng chống lại sự biến chuyển trong thành phần dân cư của đất nước và sự ủng hộ của truyền thông đối với những nhân tố tự do và cấp tiến. Nếu cuộc bầu cử này là tín hiệu mở màn một kỉ nguyên mới cho Hoa Kỳ, ta có thể chứng kiến công chúa Disney phát triển theo một chiều hướng khác, nhưng không hẳn là mới: xa rời sự đa dạng như những năm nay và quay về với hình tượng nữ chính truyền thống.


Bài gốc: http://www.bbc.com/culture/story/20161128-the-controversy-behind-disneys-groundbreaking-new-princess 
Tác giả: Tom Brook
Người dịch: Bích Hà
Hiệu đính: Hồng Sương
Chú thích:
1. Polynesia – Đa Đảo: một phân vùng của châu Đại Dương, nằm ở phía nam Thái Bình Dương, gồm trên 1000 đảo. Dân cư Đa Đảo có nhiều nét tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ và tín ngưỡng. 
2. Political correctness: nôm na là những cách nói tránh hoặc những chính sách, hành động nhằm tránh phương hại đến một nhóm nào đó trong xã hội. Ví dụ “người da đen” thì gọi là “người da màu”, “người gốc Phi”. Trong bài này “political correctness” ám chỉ ý kiến cho rằng phụ nữ không cần phải mình hạc xương mai mới là đẹp, đòi phá bỏ những khuôn mẫu hình thể áp đặt lên nữ giới.




Thứ Ba, 7 tháng 2, 2017

Monster Trucks – Không mới nhưng vẫn thú vị

       Không phải ngẫu nhiên, cứ vào dịp Tết, mọi người thường có xu hướng đi xem phim hài. Một suất phim Tết mang lại những tràng cười sảng khoái chính là sự chào đón đầy hứng khởi cho một năm mới bắt đầu. Trong số những bộ phim điện ảnh ra rạp vào dịp Tết Nguyên Đán năm nay, Monster Trucks là một bộ phim đáng xem dành cho khán giả.
Hình ảnh nhân vật Tripp và Creech đáng yêu


Những chiếc xe tải quái vật (Monster Trucks) không hẳn là một bộ phim hài, nó thuộc hàng ngũ những thước phim hành động của hãng Paramount Pictures như các “bậc đàn anh đàn chị của nó” là Aliied (Liên Minh Sát Thủ) hay Saving Private Ryan (Giải cứu binh nhì Ryan). Dù vậy, chất hài hước, nét đáng yêu của từng nhân vật cứ bàng bạc trong từng pha hành động khiến cho Monster Trucks trở thành món ăn tinh thần vô cùng thú vị cho gia đình, bạn bè cùng nhau thưởng thức trong dịp Tết đến xuân về.


Bộ phim là câu chuyện xoay quanh anh chàng Tripp (thủ vai bởi “X-men” Lucas Till), một cậu học sinh trung học ít nói với ước mơ sở hữu một chiếc monster truck để thỏa khao khát rời khỏi cuộc đời hiện tại và thị trấn mình sinh ra. Một ngày nọ, sau khi xảy ra tai nạn ở gần mỏ dầu, Tripp đã phát hiện có một sinh vật kì lạ trốn trong chiếc xe tải đang-thiếu-động-cơ của mình. Anh đặt tên cho sinh vật này là Creech và nhờ những chức năng kì lạ của nó, chiếc xe tải của Tripp đã trở thành một chiếc monster truck theo đúng nghĩa đen. 

Poster phim Monster Trucks
Một cách nhìn chân phương và tổng quát nhất, Monster Trucks có cốt truyện đơn giản, mô típ quen thuộc, vẫn là một anh chàng cùng với một cô nàng phát hiện ra một sinh vật kì bí, sau đó ra sức bảo vệ “người bạn mới ấy” khỏi báo giới, hoặc không báo giới thì cũng là những kẻ săn tiền thưởng hay các nhà khoa học với mục đích tiến hành các thí nghiệm trên sinh vật lạ. Nhiệm vụ cuối cùng của đôi nhân vật chính là đưa “người bạn bí ẩn” kia trở về nhà của nó. Sự giản đơn, hao hao này có thể gây nhàm chán cho các tín đồ phim hành động, nhưng đây cũng có thể là một điểm cộng cho Monster Trucks vì nó dễ hiểu, gần gũi, phù hợp với khán giả đại trà.

 Ấn tượng nhất trong  bộ phim có lẽ là nhân vật Creech - người bạn đến từ “thế giới ngầm”. Có thể nói, trong suốt bộ phim, đây chính là “diễn viên” biết lấy lòng khán giả nhất. Những thước phim mở đầu cho sự xuất hiện của Creech đã cố tình đẩy người xem đến nghi ngờ liệu đây có phải là một siêu phẩm kinh dị, bởi Creech thoắt ẩn thoắt hiện, loằn ngoằn với những xúc tu khổng lồ, nhầy nhụa và phát ra những thanh âm rùng rợn. Nhưng từ khi sinh vật lạ ấy lộ diện – “hiện nguyên hình” thì khán giả không thể nào rời mắt khỏi những phân đoạn của nó. Từ ánh mắt, nụ cười, cho đến các cử chỉ, hành động của Creech đều vô cùng đáng yêu, dễ thương khó đỡ. Creech giống như em bé vậy, một em bé to xác, nghịch ngợm và hồn nhiên. Nét li kì là “em bé” này sở hữu một trí tuệ ưu việt cùng với siêu năng lực đáng gờm. Trên phương diện tạo hình nhân vật, tôi cho rằng chủng loại của Creech là sự kết hợp giữa hải cẩu và bạch tuộc. Sự thông minh đến kì diệu của hai loài vật này đã được khoa học kiểm chứng, điều này có lẽ phần nào lý giải cho trí thông minh của Creech. 
Tình bạn đẹp của hai nhân vật chính
     Mặt khác, khán giả vẫn cảm thấy hơi tiếc vì mình đã chọn suất chiếu 2D chứ không phải là 3D. Một cuộc đua xe tải với những pha rượt đuổi gay cấn, những chiếc xe tải quái vật với màn nhào lộn trên không khiến người xem phải há hốc, hay những tình thế nguy hiểm - ngàn cân treo sợi tóc, đặc biệt ở phần cuối phim, tất cả những thước phim ấy, nếu được xem dưới hình thức 3D thì chắc chắn sự hào hứng, say mê còn tăng lên gấp bội. Nếu đem Monster Trucks và xXx: The Return of Xander Cages lên bàn cân để đo mức độ đậm đặc các pha hành động thì những chiếc xe tải quái vật vẫn chưa đủ “máu” nhưng bộ phim đã làm tốt phần kĩ xảo và đan cài những tình huống bi hài khó đỡ giữa các nhân vật, đủ để mang lại những phút giây giải trí thú vị cho người xem.
Những pha hành động hấp dẫn trong Monster Trucks
Hơn nữa, bộ phim được đánh giá cao những thông điệp mà bộ phim gửi gắm. Có rất nhiều thứ tình cảm được gợi ra từ Monster Trucks, là tình bạn tự nhiên mà chân thành giữa Creech với Tripp hay giữa Tripp với cô bạn đồng hành Meredith ( do Jane Levy thủ vai). Tình cha con giữa Tripp và người cha dượng, hay tình yêu với thiên nhiên, sinh vật và bảo vệ môi trường cũng được đề cập đến. Dường như vì thế mà Monster Trucks gợi cho nhiều người liên tưởng đến bộ phim hoạt hình How to Train Your Dragon (Bí kíp luyện rồng). Diễn biến phim và kết thúc khác nhau, nhưng giữa hai bộ phim có nhiều nét tương đồng, đặc biệt là tạo hình nhân vật, nhất là Creech - “cậu bé” Creech có nụ cười ngộ nghĩnh và nét tính cách y hệt chú rồng Răng sún. Những tình cảm mà nhân vật mang trong mình, khiến cho cả hai bộ phim dù thuộc thể loại phiêu lưu, hành động nhưng vẫn có chiều sâu tâm lý. Trở lại với Monster Trucks, khoảnh khắc nhà khoa học Dowd ( do Thomas Lennon thủ vai) thay đổi tâm lý, suy nghĩ, có ý kiến cho rằng đó là sự vội vàng, thiếu logic. Nhưng cũng có ý kiến hoàn toàn đồng ý với cách giải quyết vấn đề như thế, nó cho thấy dù cái xấu có lớn, nhưng theo thời gian tiếp xúc với những điều tốt đẹp, đáng mến, dễ thương thì sự xấu xa sẽ bị cái tốt đẹp, dễ thương ấy quy phục. Đó cũng là niềm tin mà mỗi con người cần có trong cuộc đời khi đối mặt với điều xấu.

Phải nói rằng đạo diễn Chris Wedge đã thành công trong việc phát triển Monster Trucks từ dự án phim hoạt hình thành live-action. Và bây giờ, dù bộ phim được hoàn tất với bản người đóng thì nó vẫn được dựng bởi đạo diễn hoạt hình Ice Age (Kỉ Băng Hà), sống động hơn, gay cấn hơn nhưng vẫn giữ được chất nhẹ nhàng, thư giãn vốn có. Những chiếc “ xế hộp” cực ngầu khi được nhồi nhét bên trong là con quái vật nhầy nhụa, nhiều xúc tu... Cùng những pha hành động xen lẫn hài hước cùng những tình cảm đáng quý, đáng trân trọng…

    
      Ivy
    







Thứ Năm, 2 tháng 2, 2017

Trò chơi đời người trong bộ phim Bao giờ cho đến tháng mười


Bao giờ cho đến tháng mười
 là một câu chuyện bi kịch. Được đánh giá cao cả về nghệ thuật và tư tưởng, bộ phim thực sự chạm đến những tầng xúc cảm sâu xa của người xem. Tuy nhiên, vấn đề đáng chú ý là những điểm nhấn nghệ thuật của bộ phim, những trường đoạn lấy nước mắt khán giả, hầu như đều được xây dựng và tổ chức trong hình thức của trò chơi. Trò chơi, đó là những bức tranh màu và khẩu súng nhựa hồn nhiên của Tuấn, là con diều của chồng Duyên, nhưng sâu xa hơn, đó cũng là sự “đóng kịch” của Duyên, hay sự giả trang của Khang vào vai người đã khuất. Trò chơi ở đây cần được hiểu là một cấu trúc thẩm mỹ kiến tạo nên tình huống và dẫn dắt diễn tiến cốt truyện theo một mạch xuyên suốt. Từ những ý tưởng đó, bài viết này sẽ thử đi vào tìm hiểu ý nghĩa của tác phẩm điện ảnh kinh điển, Bao giờ cho đến tháng mười, từ góc nhìn của lý thuyết trò chơi.


Trò chơi trong Bao giờ cho đến tháng mười không phải là một cái gì đối lập với bi kịch, mà ngược lại, trở thành phương thức tồn tại và vận hành của bi kịch. Trò chơi, đó không chỉ là cái trạng huống trớ trêu mà số phận dồn đẩy con người vào – không phải là con người hoàn toàn “bị chơi”, thật ra, vấn đề ở đây là con người đã tự kiến tạo nên luật chơi và tự tham gia vào trò chơi đời mình một cách vừa bất đắc dĩ vừa tự nguyện. Từ trò bắn súng thả diều của đứa trẻ (Tuấn) đến trò hóa thân, đóng vai và diễn kịch của người lớn (Duyên và Khang) mặc dù khác nhau về nội hàm nhưng vẫn chỉ là một hình thái. Vẫn là lựa chọn, rồi dấn thân, rồi hòa mình vào cái trật tự giả định; và cho đến cuối cùng, vẫn là hư cấu nên một thực tại khác tách biệt với cái hiện thực nghiêm túc bên ngoài. Sự phối kết sâu sắc giữa trò chơi và bi kịch là một điểm nhấn đặc biệt trong bộ phim – chính tại đó, các nhân vật, dù vô tình hay hữu ý, đã bộc lộ rõ nhất thân phận, bản chất và vẻ đẹp của mình.

Nữ diễn viên Lê Vân trong vai Duyên

Trò chơi đầu tiên được tạo ra là trò đóng vai. Mọi thứ bắt đầu khi Duyên quyết định giấu mọi người trong gia đình và thôn xóm sự thật về cái chết của chồng mình. Kể từ đó, Duyên vào vai người vợ có chồng đi chiến đấu xa (chứ không phải là một góa phụ). Kể từ đó, cô liên tục tạo ra những sự kiện để duy trì cái thực tại hư cấu về sự hiện hữu của chồng mình. Những món quà mang về từ Tây Nguyên, những tin tức của chồng, những bức thư… tất cả đều là sự “bịa đặt” của Duyên, nhằm nuôi dưỡng niềm tin của mọi người cũng như niềm hy vọng hư ảo của cô. Duyên sống hai đời sống, mà cái nào cũng nhập nhằng hư thực: một bên là đời sống bên ngoài với gia đình và hàng xóm – nơi cô phải đeo mặt nạ để nhập vai; một bên là đời sống nội tâm – nơi cô cởi bỏ những gồng gánh để trực diện với mất mát. Trò chơi này, một cách tất yếu, dẫn đến hai hiệu ứng trái ngược đối với Duyên và những người trong gia đình cô: bi kịch – dành cho người biết, và thanh thản – dành cho người không biết. Chỉ có khán giả là kẻ duy nhất đứng từ bên ngoài nhìn thấu toàn bộ cái cục diện trớ trêu và bi đát của các nhân vật.

Trò chơi thứ hai là sự hóa thân của Khang vào vai chồng Duyên. Được Duyên nhờ vả, Khang tự đặt mình vào vị thế của người chồng để viết thư gửi về cho gia đình Duyên –  trò chơi đó không đơn thuần chỉ là một sự sắm vai, mà phải là sự thấu nhập và hiểu biết sâu xa về thân phận của nhau để có thể “trở thành nhau” một cách trọn vẹn. Khang, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, đã “từ bỏ” bản thân mình để sống sự sống của một người quá cố. Bức thư của Khang đã hoàn thành sứ mệnh của nó trong việc đáp ứng nỗi mong mỏi tin tức của gia đình và làng xóm, nhưng một lần nữa, tính hai mặt của hoàn cảnh đã phơi bày sự đối nghịch giữa Duyên và đám đông những người đọc thư. Cảnh Duyên đứng nấp sau cánh cửa nghe nội dung bức thư dễ gợi lên những phức cảm: cô đang bàng hoàng ngơ ngẩn với sự hiện hữu trở lại của chồng, hay đang tuyệt vọng với cái nhận thức thấm thía về nỗi mất mát không thể cứu vãn mà chỉ mình cô là người hiểu rõ?

Một cảnh trong phim "Bao giờ cho đến tháng mười"

Trường đoạn đáng chú ý nhất, và cũng mang tính trò chơi cao độ nhất, là trường đoạn vở chèo trong hội làng. Duyên đóng vai người thiếu phụ tiễn chồng ra trận. Tính chất song trùng giữa số phận của Duyên và người thiếu phụ trong vở chèo đã tạo nên một tình thế bi kịch giữa chân và ngụy, rằng đâu là bản thể của con người – là kẻ đang ca hát đấy hay là kẻ đang tiễn đưa chồng, là kẻ đang đóng vai hay là kẻ được đóng vai? Có thể nói, ở đây, Duyên đóng thêm một lớp kịch nữa chồng lên lớp kịch do chính cô tạo ra ngay từ đầu, và rằng Duyên đã đóng kịch trong đời thực nhưng đã sống thực trong vở kịch – chính ở cái tình huống tới hạn này, toàn bộ nông nỗi của nhân sinh chợt vụt hiện trong khoảnh khắc. Như một câu nói của Charles Chaplin, “Cuộc đời nhìn gần là bi kịch, nhìn xa là hài kịch”, ta thấy thâu tóm lại trong trường đoạn này tất cả cái tấn kịch nghệ bi thảm của người quá phụ trẻ. Duyên không diễn được đến hết vở chèo – bởi vai diễn người thiếu phụ trong vở chèo đối với cô đã không còn là một vai diễn. Sự đối nghịch giữa tâm trạng đau đớn của Duyên và sự vui vẻ của đám đông khán giả bên dưới cho thấy cái khoảng cách thăm thẳm của kịch và đời, của sự thật và sự giả trang.

Phiên chợ âm dương lại là một cuộc chơi khác. Đó vốn là một lễ hội truyền thống của làng bắt nguồn từ một truyền thuyết cổ xưa, rằng vào ngày rằm tháng bảy hằng năm, bên miếu thờ Thành Hoàng người sống và người chết sẽ có cơ hội được gặp mặt nhau. Trường đoạn này, Duyên gặp lại chồng cô, nhưng hai người không thể chạm vào nhau. Cái khoảng cách ngắn ngủi giữa hai bàn tay cũng là khoảng cách vô tận giữa hai cõi giới. Phiên chợ diễn ra không rõ mơ hay thực, nhưng xét đến cùng nó cũng mang bóng dáng của một trò chơi đuổi bắt vô vọng – trong đó Duyên, kẻ theo đuổi, dường như mãi không thể nào “bắt” được hạnh phúc. Trò đuổi bắt diễn ra trong một tình thế mất cân đối: Duyên gần như bị “lọt thỏm” trong bóng tối, với phông nền ẩn hiện phía xa là tầng tầng lớp lớp những đóa hoa đăng trôi nổi – biểu tượng của vô số những linh hồn chết trận.


Toàn bộ bộ phim là một trò chơi lớn giữa cái biết và không biết, giữa sự thật và hư cấu, giữa sống và chết, âm và dương. Điều hiện diện xuyên suốt và còn lại sau cùng trong chuỗi trò chơi bất tận ấy là tình yêu thương của con người. Giây phút người cha trút hơi thở cuối cùng cũng là giây phút mọi trò chơi chấm dứt – tiếng nấc nghẹn của Duyên, “Con có lỗi với bố! Con đã giấu bố!” trở thành âm thanh chung cuộc đóng lại tất cả. Tuy vậy, kìm nén và chịu đựng đã trở thành một bản năng quá sâu sắc của người phụ nữ, nên lẽ ra trong thời khắc không còn gì để che giấu (khi người cha đã chết và khi những người bộ đội đã đến nhà để đưa tin báo tử), Duyên phải được trút xả toàn bộ nỗi đau đớn dồn ứ bấy lâu của cô, thì cái mà chúng ta trông thấy, và nghe thấy, là hành động đưa tay ôm mặt và tiếng khóc rấm rứt không bung thoát ra được của Duyên. Cái chết của người chồng đẩy Duyên vào tình thế phải “chơi”, và cái chết của người cha khép lại cuộc chơi tréo ngoe đó để mở ra một sự sống mới – ngày đó Tuấn, con Duyên, bắt đầu theo bạn bè đến lớp, ngày đó cũng là ngày các nhân vật bắt đầu nhìn cuộc sống bằng nụ cười và giọt nước mắt thấu hiểu và rất đỗi chân thành.


Hồng Sương