Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dịch thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Split

Split
Chấm điểm: 3/4.
Người viết: Christy Lemire.
Khởi chiếu tại Việt Nam từ 17/02/2017.



Khi xem một bộ phim của M. Night Shyamalan, khán giả song song và đồng thời để mắt tìm điểm thắt nút tất yếu của phimKiểu thắt nút này đã trở thành lệ với mỗi bộ phim của đạo diễn kiêm biên kịch Shyamalan, kể từ khi tác phẩm đầu tay nổi như cồn The Sixth Sense - Giác quan thứ sáu ra mắt gần hai thập kỉ trước. Ta tự hỏi: Ông sẽ làm ta bất ngờ bằng cách nào đây? Ta nên tìm kiếm những manh mối gì? Nút thắt lần này liệu có hiệu quả hay không? 


Xét tới những nỗ lực tầm tầm như The VillageLady in the Water hay những lần chệch khỏi quỹ đạo như The Last Airbender và After Earth vô vị, không hề mang chút dấu ấn nào của Shyamalan, thì với câu hỏi cuối ở trên, câu trả lời thường là “Không hẳn”. Thế nên, bộ phim mới nhất của ông mang tên Split - Tách biệt đã đánh dấu một sự trở lại đầy cảm xúc. Một phim kinh dị thuần túy hiếm hoi của Shyamalan, cũng là một lời nhắc nhớ ấn tượng về trình độ kĩ thuật thượng thừa của ông. Tay nghề quay phim xuất chúng của Shyamalan được phô diễn trọn vẹn, bắt nguồn từ niềm yêu kính trọn đời ông dành cho Alfred Hitchcock, bao gồm cả việc chính mình thủ một vai diễn khách mời như thường lệ. Và dù  phim không có nút thắt lớn nào, thì điểm thắt nút vẫn là một trong những phần thú vị nhất của Split.

Cách kể chuyện cũng như tiết tấu của Splitkhá gọn và căngso với phong cách gần đây của Shyamalan. Mặc cho thời lượng đến gần hai tiếng, mạch phim như luôn luôn tiến triển, kể cả khi dẫn những cảnh hồi tưởng để cung cấp cho người xem những góc nhìn khác nhau.

Shyamalan dường như luôn giàu năng lượng, dù cho ông đang trong hoàn cảnh khó khăn. Thành công của phim phần nhiều nhờ vào diễn xuất thiên tài của James McAvoy trong vai một kẻ bắt cóc tên Kevin mang trong mình đến 23 nhân cách khác nhau.

Từ gã thợ bảo trì Dennis bị chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế đến cậu nhóc chín tuổi Hedwig nghịch ngợm, từ bà Patricia người Anh ra vẻ đoan chính đến anh chàng fashionista Barry người New York bảnh chọe, McAvoy thổi hồn vào tất cả những nhân vật này theo một cách tuy phải nói là hơi quá đà nhưng vẫn rất thú vị. Dù đôi chỗ hơi “kịch”, nhưng diễn xuất của anh  sự uyển chuyển và chính xác tuyệt vời. Anh phải thực hiện nhiều thay đổi từ lớn tới nhỏ, nhiều khi cùng lúc, một cảnh tượng làm mê mẩn người xem..


James McAvoy vào vai tên sát nhân với 23 nhân cách khác nhau

Cách diễn tả một nội tâm rối ren của McAvoy là hài hước hoá những điều tồi tệ nhưng cũng buồn đến không ngờ. Cho dù bị nhân cách nào điều khiển thì Kevin cũng đáng sợ như nhau; nhưng những chấn thương tâm lý từ lúc bé rõ ràng vẫn còn ám ảnh anh khi đã trưởng thành, những chấn thương đã buộc anh phải hình thành một loạt nhân cách để tự vệ. Một tâm hồn mong manh dễ bị tổn thương dần tự phơi bày ở hồi ba1tạo nên một sắc thái hoàn toàn khác khiến khán giả không khỏi rùng mình.

Phim bắt đầu bằng một vụ bắt cóc được Shyamalan dàn dựng hiệu quả và hấp dẫn. Ba nữ sinh trung học lên xe về nhà sau một buổi tiệc sinh nhật ở trung tâm thương mại: Claire và Marcia xinh xắn nói cười luôn miệng (Haley Lu Richardson trong phim The Edge of Seventeenvà Jessica Sula), và một Caseye dè ít nói (Anya Taylor-Joy) được mời đi chỉ vì người ta thấy thương hại cho cô. Nhưng cả ba nhanh chóng nhận ra người ngồi sau vô-lăng không phải bố của Claire mà là Kevin. Hắn lập tức đánh bất tỉnh ba người và lôi họ về sào huyệt tạm bợ của hắn, sâu dưới lòng đất.

Cứ mỗi lần Kevin xuống thăm tù nhân, giọng nói cũng như tính cách của hắn lại thay đổi. Ba cô gái dần nhận ra kẻ bắt cóc bị chứng đa nhân cách, duy chỉ có Casey, người đã trở thành thủ lĩnh nhanh trí củabộ ba, là có gan lân la làm quen với hắn. Màn trình diễn thuyết phục của Taylor-Joy trong các phim The Witch và Morgan đã cho ta thấy rằng, ngay cả khi hoàn toàn bất động thì chỉ với đôi mắt to hình quả hạnh ấy, cô cũng có thể tỏ ra đáng gờm ngang ngửa James McAvoy. Cô nâng nhân vật Casey thoát khỏi ngưỡng một nữ anh hùng điển hình ta thường cổ vũ trong các phim kinh dị, đặc biệt nhờ sự trợ giúp của những cảnh hồi tưởng cho thấy cô đã học được những bản năng sinh tồn bằng cách nào. Các bạn diễn của cô không được ưu ái nhiều đất diễn đến thế, cũng không được chăm chút phần phục trang bằng cô.


Taylor-Joy (trái) trong vai Casey - người duy nhất dám đương đầu với tên sát nhân

Ta cũng hiểu hơn về tình trạng tâm lý của Kevin thông qua các buổi trị liệu hằng ngày mà hắn (hay nói đúng hơn là một nhân cách của hắn) sắp xếp với nhà tâm lý học Fletcher (nữ diễn viên tao nhã và đa cảm Betty Buckley thủ vai). Là một nhà nghiên cứu hàng đầu trong lĩnh vực này, bà tin rằng chứng đa nhân cách không phải là khuyết tật, mà là biểu thị của một bộ não đầy tiềm năng. Những cuộc đối thoại giữa hai người, dù căng thẳng và quyết liệt, là khoảng nghỉ yên bình giữa những thước phim bạo lực.

Chúng cũng giúp ta tìm ra lời giải cho bài toán này (thật ra là nhiều bài toán khác nhau cùng lúc). Đó là câu hỏi Kevin muốn gì ở những cô gái, hay các cô gái sẽ trốn thoát bằng cách nào. Nhưng yếu tố căn bản tạo nên không khí hãi hùng của cả bộ phim lại chính là cách mà các nhân cách tương tác với nhau, thao túng và dọa dẫm nhau, và câu hỏi liệu có hay không một thế lực còn đen tối hơn đang trỗi dậy.

Nhạc phim của West Dylan Thordson và âm thanh rùng rợn được thiết kế chuyên nghiệp góp phần giúp Split trở thành một trải nghiệm sởn gai ốc ngay từ lúc bắt đầu. Tuy nhiên phim hơi chững lại lúc về cuối với những mánh lới và trùng hợp ngẫu nhiên, cũng như với hướng làm phim dễ dãi -khai thác quá mức phần tuổi thơ bất hạnh để tạo cảm xúc rẻ tiền. Tôi vẫn đang đánh vật với những cảm xúc chồng chéo về bộ phim, nhưng tôi biết mình ra về mà vẫn thấy lấn cấn, dù phim rất cuốn hút cả về mặt nội dung và kĩ thuật.

Dù sao đi nữa, Shyamalan tìm lại được chỗ đứng sau chừng ấy năm vẫn là việc đáng mừng. Hãy nán lại đến phút chót để xem ông còn giấu tài phép gì trong tay áo nhé.

----------

Chú thích:

1.      Kịch bản phim thường có bố cục ba hồi: thiết lập, phát triển và hạ màn.
Dịch: Nguyễn Bích Hà.
Hiệu đính: Lê Nguyên Thảo.


Nguồn: http://www.rogerebert.com/reviews/split-2017

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

Những tranh cãi đằng sau cô công chúa mới mang tính đột phá của Disney

Moana đã tạo nên làn sóng thành công vang dội, nhưng tương lai cho các nữ chính của xưởng phim này sẽ như thế nào?
Cover phim Moana

Moana là một bộ phim đột phá cho Disney, bởi đây là lần đầu tiên xưởng phim này có một cô công chúa đến từ Polynesia – Đa Đảo, nhưng như thế vẫn chưa hết. Nhân vật chính còn sở hữu một thân hình “trung bình” chứ không có vòng eo con kiến hay tay chân dài thượt bất thường như các nàng công chúa trước đó. Khi vừa mới công chiếu ở các rạp, phim đã nhận được nhiều nhận xét tích cực, trong đó tạp chí Slant đã khen ngợi rằng nàng công chúa mới nhất này “không nổi loạn kiểu ích kỷ, cũng không ngây thơ đến mức tưởng cuộc đời toàn màu hồng.”

 Rebecca Hains, tác giả của cuốn “The Princess Problem: Guiding Our Girls through the Princess-Obsessed Years” (tạm dịch là Vấn nạn Công chúa: Hướng dẫn Con gái Chúng ta Vượt qua những Năm bị Công chúa Ám ảnh) nhìn nhận một cách chắc chắn rằng vẻ ngoài của Moana là một sự tiến bộ. Bà nói: “Theo tôi việc này có ý nghĩa rất lớn. Rõ ràng Disney đã biết tiếp thu các ý kiến phê bình. Việc ngày càng có nhiều nữ chính với thân hình trung bình xuất hiện trên màn ảnh là rất quan trọng; và đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy Disney đã bắt đầu thực sự lắng nghe những băn khoăn của các bậc phụ huynh.


Thế nhưng Debbie Schlussel, một cây bút bảo thủ và đồng thời là người dẫn talk show lại thấy một Moana đậm người là ví dụ của “political correctness” đi quá xa. Bà nói: “Tôi nghĩ nó (bộ phim) làm các bé gái nghĩ rằng chúng không cần phải có thân hình thon gọn. Nó khiến các em sau này có một lối sống thiếu lành mạnh cũng như một đời sống lứa đôi nhàm chán.” 


Vấn nạn công chúa


Nhân vật thần thoại của phim tên Maui, một á thần trong các truyền thuyết ở vùng nam Thái Bình Dương, cũng bị chỉ trích vì quá to béo và bóp méo hình tượng người Đa Đảo. Nhưng các cô công chúa nhà Disney mới rơi vào tầm ngắm đặc biệt bởi những nhân vật này có ảnh hưởng không hề nhỏ đến tâm trí các bé gái.


“Có những bé mới hai, ba tuổi đã muốn làm công chúa,” Hains nói. “Các em bị ám ảnh và thực sự đồng nhất bản thân mình với những nàng công chúa đó. Hơn nữa các em không thể nào có được mẫu thân hình mà những phim này cho là lý tưởng.


Hình tượng nhân vật Maui
Công chúa Disney luôn đại diện cho những mối lo ngại hay thái độ văn hóa vào thời điểm phim được phát hành. Những năm 1930 là lúc Walt Disney trình làng Bạch Tuyết, nàng công chúa đầu tiên. Bạch Tuyết là hiện thân cho quan niệm đang thịnh hành về phụ nữ thời kì đó: phụ nữ là phải e ấp thẹn thùng, phải thụ động. Thực tế thì các nhân vật nữ thời kì đầu hay được nhắc đến như Lọ Lem hay Người đẹp Ngủ trong Rừng đều bị coi là những nàng công chúa Disney yếu đuối nhất vì họ toàn dựa dẫm vào chàng bạch mã hòang tử.

Sau Người đẹp Ngủ trong Rừng năm 1959, Disney không có thêm cô công chúa nào đến tận 30 năm sau, khi mà phong trào nữ quyền đã đạt được vài dấu ấn. Kỉ nguyên công chúa sau đó đã thêm vào các yếu tố nữ quyền, cũng như nhiều nét truyền thống hơn. Tỉ dụ như Nàng tiên cá Ariel cũng ít nhiều cho thấy sự độc lập, nhưng đến cuối lại từ bỏ giọng hát để được gần người trong mộng.


Tương tự như vậy, nhân vật Belle trong Người đẹp và Quái vật cũng thể hiện ý chí mạnh mẽ khi không chịu sống theo khuôn mẫu của cộng đồng. Nhưng cô mất đi cá tính của mình từ lúc tiếp nhận thế giới qua góc nhìn của Quái vật.


Không chỉ có phong trào đòi nữ quyền là có ảnh hưởng đến công chúa Disney. Quyền của thổ dân châu Mỹ đã được củng cố trong vòng hai thập kỉ từ giữa những năm 1970 với việc chính phủ thông qua luật bảo vệ quyền và lợi ích của các bộ tộc. Thế là vào năm 1995, Poncahontas xuất hiện. Nàng là công chúa đầu tiên của Disney mang dòng máu da đỏ và được coi là một trong những cô công chúa độc lập nhất từng được tạo ra.


Pocahontas chắc chắn là một kiểu nhân vật hoàn toàn khác biệt, khác ở chỗ cô không phải được định hình bằng các mối quan hệ yêu đương và cô chủ động hơn rất nhiều. Pocahontas cũng là một trong những công chúa đầu tiên đóng một vai trò tích cực trong việc trị vì.” Lời phát biểu trên là của Megan Codis, trợ giảng môn Tiếng Anh ở Trường đại học Stephen F. Austin State, người đặc biệt quan tâm đến lịch sử các cô công chúa nhà Disney.


Dù vậy Pocahontas không phải là không gây ra tranh cãi. Phim nhận nhiều chỉ trích vì tính dục hóa hình tượng người phụ nữ và bóp méo lịch sử.

Nàng công chúa da đỏ Pocahontas
Năm 1998 đánh dấu sự ra đời của một cô công chúa gan dạ nữa: Mộc Lan. Hoàn toàn xa lạ với khái niệm e ấp thẹn thùng, Mộc Lan trở thành người hùng trong chính câu chuyện của mình, thậm chí còn mặc giáp xông trận.

Thế giới phải chờ mãi đến tận 2009 Disney mới giới thiệu công chúa người Mỹ gốc Phi đầu tiên, đó là Tiana trong Công chúa và Chàng Ếch. Khát vọng của nàng khá khác biệt so với những người trước đó.


“Cô không mơ được cưới hoàng tử và trị vì vương quốc, mà cô ấy mơ được mở nhà hàng”, Codis nói. Nhưng không phải ai cũng tán thành Tiana. “Tôi nghe nhiều người trong cộng đồng gốc Phi phàn nàn rằng lần đầu tiên có một công chúa da màu, thế mà phần lớn thời gian cô ấy lại là một con ếch.” Rebecca Hains nói thêm.

Công chúa Tiana và hoàng tử Ếch
Nhưng mặc cho sự xuất hiện của ngày càng nhiều nữ anh hùng mạnh mẽ, họ lại không được nhắc đến nhiều bằng các công chúa truyền thống, nhất là trong các sản phẩm của Disney.

“Nếu bạn nhìn vào các dòng sản phẩm của Disney, ví dụ như hộp ăn trưa hay áo thun, bạn sẽ thấy Belle, Lọ Lem và Người đẹp ngủ trong rừng hay đứng chung với nhau. Mặc dù về lý thì Pocahontas và Mộc Lan vẫn là công chúa Disney nhưng họ lại rất hiếm khi xuất hiện trên những sản phẩm dạng này.” Codis giải thích.


Chúng ta là một gia đình


Có lẽ cô công chúa hiện đại nhất là Merida trong phim Brave (Công chúa Tóc xù) năm 2012. Điều nổi bật là lần đầu tiên có một phụ nữ đồng đạo diễn và đồng biên kịch một bộ phim hoạt hình công chúa. Merida được xem là thuộc về một nhóm tách biệt trong số các cô công chúa nhà Disney.


“Merida của Brave, Elsa  Anna của Frozen (Nữ hoàng Băng giá), kể cả Rapunzel của Tangled (Công chúa Tóc mây) – tất cả họ đều gan góc hơn, và lý tưởng của họ không nhất thiết có dính dáng đến chuyện yêu đương.” Rebecca Hains chỉ ra.


Poster phim Frozen
Frozen là bộ phim hoạt hình có doanh thu cao nhất mọi thời đại, và cách nó tiếp cận tình yêu là đặc biệt đáng ghi nhận. Elsa thì không còn tâm trí nào nghĩ đến chuyện yêu khi còn bận kiểm soát năng lực siêu nhiên của mình, nhưng Anna đã trải qua một thay đổi lớn. Ban đầu, tình yêu là mối bận tâm hàng đầu của cô, nhưng chính sự gắn kết giữa hai chị em mới là động lực giúp phim tiến triển, và cuối cùng lại nổi lên thành ưu tiên số một. Trong Frozen, tình cảm quan trọng nhất là tình cảm giữa chị và em, còn chuyện gặp được bách mã hoàng tử chỉ là phụ.
Nàng công chúa Elsa trong Frozen
Vài người đã xem cuộc đấu tranh của Elsa để tìm “cái tôi” và kiểm soát siêu năng lực là hiện thân của một cái gì hoàn toàn khác. Không ít người thấy Elsa tương đồng với những thiếu niên và người trưởng thành đánh vật để chấp nhận bản năng giới tính của mình. Có lẽ nào Elsa là công chúa đồng tính nữ đầu tiên của Disney? Đây cũng là chủ đề của phong trào được Idina Menzel, người lồng tiếng của nhân vật ủng hộ. Vẫn chưa rõ liệu Disney có biến lời đồn thành sự thật trong phim Frozen 2 rất được ngóng đợi hay không, nhưng nếu đúng như vậy thì hẳn sẽ có nhiều tranh luận nổ ra.

Những nhà phê bình bảo thủ như Debbie Schlussel cho rằng Disney ngày càng xa rời khỏi những giá trị “nguyên bản và tốt đẹp” của nước Mỹ. “Xã hội của chúng ta đang rạn nứt vì Disney đã và đang cổ xúy nữ quyền”, bà nói thêm.


Mặc dù nhìn chung người hâm mộ có nhận thấy sự tiến bộ của công chúa Disney, họ cũng phải chấp nhận rằng những đặc điểm của các nhân vật gần đây đều là do ảnh hưởng từ bên ngoài chứ bản thân công chúa không tự quyết định sự thay đổi. Ví dụ như, Disney cho ra đời một công chúa chuyển giới vào thời điểm này là rất khó, nếu không muốn nói là việc bất khả thi. Nói thế không phải là không hiện hữu áp lực tạo ra những nàng công chúa đủ các kiểu và thể loại. Năm 2014 còn rộ lên phong trào kêu gọi phải có một công chúa mang hội chứng Down.


Moana và những nàng công chúa trước đó phản ánh những thái độ đang hồi thay đổi của nước Mỹ đối với các vấn đề sắc tộc, giới tính và ứng xử với nhóm thiểu số. Có lẽ Disney muốn cho Moana trở thành biểu tượng của thời đại này: một người phụ nữ can đảm và là sản phẩm của một nước Mỹ đa văn hóa. Nhưng phim được phát hành chỉ vài tuần sau cuộc bầu cử của ông Donald Trump. Điều đó có thể góp phần vào làn sóng phản ứng chống lại sự biến chuyển trong thành phần dân cư của đất nước và sự ủng hộ của truyền thông đối với những nhân tố tự do và cấp tiến. Nếu cuộc bầu cử này là tín hiệu mở màn một kỉ nguyên mới cho Hoa Kỳ, ta có thể chứng kiến công chúa Disney phát triển theo một chiều hướng khác, nhưng không hẳn là mới: xa rời sự đa dạng như những năm nay và quay về với hình tượng nữ chính truyền thống.


Bài gốc: http://www.bbc.com/culture/story/20161128-the-controversy-behind-disneys-groundbreaking-new-princess 
Tác giả: Tom Brook
Người dịch: Bích Hà
Hiệu đính: Hồng Sương
Chú thích:
1. Polynesia – Đa Đảo: một phân vùng của châu Đại Dương, nằm ở phía nam Thái Bình Dương, gồm trên 1000 đảo. Dân cư Đa Đảo có nhiều nét tương đồng về văn hóa, ngôn ngữ và tín ngưỡng. 
2. Political correctness: nôm na là những cách nói tránh hoặc những chính sách, hành động nhằm tránh phương hại đến một nhóm nào đó trong xã hội. Ví dụ “người da đen” thì gọi là “người da màu”, “người gốc Phi”. Trong bài này “political correctness” ám chỉ ý kiến cho rằng phụ nữ không cần phải mình hạc xương mai mới là đẹp, đòi phá bỏ những khuôn mẫu hình thể áp đặt lên nữ giới.




Thứ Tư, 25 tháng 1, 2017

Arrival (2016)

Đạo diễn: Denis Villeneuve
Kịch bản: Eric Heisserer
Diễn viên chính:
Amy Adams trong vai TS. Louise Banks
Jeremy Renner trong vai Ian Donnelly

Tác giả: Brian Tallerico


Người dịch: Nguyên Thảo


Đã có nhiều bài viết về sự nổi lên của những câu chuyện riêng tư kể bằng thể loại kinh dị - như trong các phim như "It Follows", "The Witch" và "The Babadook", nhưng trào lưu kể chuyện theo kiểu tương tự trong các phim khoa học viễn tưởng cũng thú vị không kém. Trong vài năm gần đây, phim khoa học viễn tưởng không chỉ khám phá năng lực du hành vũ trụ hay tương lai hậu khải huyền, mà còn như một cách giải quyết những vấn đề phổ quát của nhân loại, hơn là những câu chuyện phiêu lưu kiểu vị lai. Cùng với các phim như "Gravity", "Interstellar" hay "The Martian" là "Arrival" - bộ phim cảm động đầy tham vọng của đạo diễn Denis Villeneuve. "Arrival" kể về ngày vũ trụ thay đổi vĩnh viễn, nhưng vẫn tập trung vào một câu chuyện riêng rẽ - thậm chí khi phim mở rộng ra tầm thế giới. Bộ phim tập trung vào nỗi buồn, thời gian, sự giao tiếp và lòng trắc ẩn hơn là vào nhịp phim cực nhanh, và đó là một bộ phim đặt ra những câu hỏi. Bằng cách nào chúng ta tiếp cận những điều khiến ta sợ hãi? Tại sao giao tiếp bằng ngôn ngữ - chứ không phải bằng hành động - lại quan trọng đến thế? Cảnh cuối của "Arrival" chạm đến những ý tưởng lớn về cuộc đời mà tôi không tiết lộ ở đây, nhưng có lẽ khán giả nên hiểu rằng phim của Villeneuve không phải dạng phim làm hài lòng số đông kiểu "The Martin" - bộ phim của Ridley Scott đoạt giải thưởng lớn LHP Toronto năm ngoái. “Arrival” là dạng phim ra đời để vừa thách thức khán giả, vừa gây xúc động và buộc khán giả phải nói về nó. Trong phần lớn thời lượng, bộ phim đã thành công.

Amy Adams đã có màn hóa thân tự tin và ấn tượng trong vai Louise, một chuyên gia ngôn ngữ học được mời đến vào ngày 12 UFO xâm nhập quỹ đạo Trái Đất. Ngược với những thông tin được tiết lộ với công chúng - thoạt tiên là không nhiều thông tin về bất cứ điều gì - các nhà cầm quyền trên thế giới đã tiến hành tiếp xúc với các sinh vật bên trong, những sinh vật trông hơi giống con bạch tuộc bị một năng lượng bậc cao nén lại bằng cánh tay khổng lồ. Làm việc với quân đội và một nhà khoa học tên Ian (Jeremy Renner đóng), Louise tìm kiếm câu trả lời cho một câu hỏi cực kỳ đơn giản: Bạn muốn gì? Những kẻ Heptapods - như chúng cuối cùng được gọi - “nói” bằng thứ âm thanh thỉnh thoảng vang dội như tiếng cá voi, nhưng Louise nhanh chóng hiểu rằng chữ viết chính là cách để giao tiếp, dù cô phải giải mã thứ chữ phức tạp mà các vị khách ngoài hành tinh “viết”. Khi cô càng lúc càng tiến tới gần việc có thể trả lời câu hỏi sống còn theo cách mà cô hiểu nó, sự lo lắng của thế giới càng tiếp diễn. Liệu bản năng tự vệ của con người có thể thức dậy trước khi các nhà khoa học và các vị lãnh đạo có thể tìm cách để chống lại?

Lousie cũng có góc tối trong đời. Những cảnh mở màn kể chi tiết về sự ra đời, cuộc đời ngắn ngủi và cái chết của một đứa trẻ. Qua đó, Adams khắc họa một Louise với mạch ngầm cảm xúc ấn tượng và giản dị - điều hết sức cần thiết cho thành công của phim. “Arrival” là một phim đôi chỗ có thể khô khan, nhưng có Adam để "chống đỡ" cả bộ phim. Hình ảnh trong phim của Villeneuve không đặc biệt nặng về kỹ xảo CGI – nên cho phép Adams làm việc theo cách có thể thuật lại được. Có quá nhiều ý nghĩ xuất hiện trong lòng và trong tâm trí nhân vật, đặc biệt là trong những cảnh thắt nút cuối phim, với nó Adams có thể đã thất bại, nhưng thực chất đây một trong những phim khoa học viễn tưởng tinh tế và hướng nội nhất mà tôi từng đuợc xem. Một trong những minh chứng rõ ràng nhất cho thành công của "Arrival" là khán giả sẽ nhớ gương mặt Adams - chứ không phải thiết kế con tàu vũ trụ hay các sinh vật ngoài hành tinh ấn tượng.
Trong các tác phẩm gần đây, Villeneuve hiểu tầm quan trọng của việc xây dựng một ê kíp tài năng. Với “Arrival”, hai trong số những yếu nhân không thể phủ nhận của bộ phim là nhà quay phim Bradford Young, thiên tài đã quay "Selma" và "A Most Violent Year" và nhà soạn nhạc Jóhannsson. Jóhannsson cũng là nhân vật quan trọng trong nhịp điệu đầy cảm xúc của bộ phim, tạo không khí căng thẳng ở nửa đầu phim và dòng sóng ngầm cảm động ở cảnh cuối cùng. Young có cách tiếp cận trực quan và đẹp đẽ, sử dụng thế giới tự nhiên để dựng nên câu chuyện phi tự nhiên chân thật này. Có lẽ không cần nhắc tới vai trò người kể chuyện của Louise, nhưng chúng ta phải đánh giá cao hình ảnh đứa trẻ chạy ngang qua cánh đồng. Hình tượng đứa trẻ rất đáng yêu, không như kỹ thuật quay phim bom tấn thô ráp thường thấy trong phim khoa học viễn tưởng. Quan trọng hơn, ở “Arrival”, kỹ thuật quay mang lại cảm giác mọi yếu tố đều từ một điểm nhìn - kỹ thuật điện ảnh, hướng nhìn, diễn xuất, nhạc phim... thay vì “bom tấn trong xưởng” như chúng ta thấy gần đây.

Tuy nhiên, "Arrival" hơi chùng xuống ở đoạn giữa - điều này có thể khiến phim mất một số khán giả. Cảnh "tiếp cận đầu tiên" đầy tự tin và những cảnh đầy mục đích có liên hệ với chủ đề cuối cùng của bộ phim tham vọng một cách ấn tượng, nhưng nhịp phim "Arrival" khá loãng ở phần giữa, khiến khán giả chú ý đến sự khô khan của phim trên tổng thể. Áp lực không tiết lộ điều gì để duy trì giá trị bất ngờ của nút thắt ở cảnh cuối cùng quy định quyết định của người kể chuyện trong phần giữa – chính phần này giữ khán giả ở vị trí người quan sát hành động của bộ phim, trong khi chúng ta sẵn sàng thành kẻ tham gia. Villeneuve là một đạo diễn tài năng, nhưng bộ phim này thiếu một “độ nóng” để có thể khiến phim vượt trội về mặt triết lý và chạm tới cảm xúc trong cảnh cuối cùng. Vì vậy, khán giản thường cảm thấy mình đứng sau thứ rào chắn mà Louise dùng khi giao tiếp với những sinh vật ngoài hành tinh được cô gán cho cái tên Abbott và Costello. Như cô muốn tháo bỏ đi rào chắn, chúng ta cũng muốn “tháo bỏ” những giới hạn và bước vào sau lớp mặt nạ.



Như đã nói, “Arrival” là một làm phim tài năng và tham vọng đáng xem. Phim buộc khán giả phải suy nghĩ lại rằng điều gì khiến chúng ta thật sự là người, cũng như tầm ảnh hưởng của nỗi đau trong sự tồn tại của con người. Ở phần hay nhất của phim, và hầu như trong toàn bộ diễn xuất của Adams, bộ phim khiến ta hiểu rằng con người đều có những ngày thất bại trong giao tiếp vào bị bao trùm bởi nỗi sợ hãi không tên. Và điều đẹp nhất của chúng ta là trở thành những kẻ kiên nhẫn, đứng dậy khi bị quật ngã và hàn gắn những gì bị phá vỡ.

Thứ Bảy, 21 tháng 1, 2017

JULIETA

Tựa phim: Julieta.
Phát hành: ngày 8 tháng 4, 2016.
Đạo diễn: Pedro Almodóvar.
Chấm điểm: 4,5/5.
Người viết: Godfrey Cheshire, nhà phê bình, nhà báo và đạo diễn người Mỹ.
Người dịch: Nguyễn Bích Hà


Orson Welles1 từng nói rằng để chuẩn bị cho phim “Công dân Kane”2, ông đã học hỏi từ những Bậc thầy đi trước: “John Ford3, John Ford và chỉ có John Ford.” Trong các tác phẩm của đạo diễn người Tây Ban Nha Pedro Almodóvar, một nhà cách tân nhưng đồng thời cũng là người đi theo chủ nghĩa kinh điển trong điện ảnh, ta có thể nhận thấy ảnh hưởng từ nhiều nhà làm phim kiệt xuất như Alfred Hitchcock hay Douglas Sirk. Thế nhưng ta không thể không công nhận dấu ấn của một bậc thầy khác trong sự nghiệp của ông, đó là chính bản thân Almodóvar.
“Julieta”, bộ phim thứ 20 của Almodóvar và theo tôi cũng là bộ phim hay nhất, sau tác phẩm “Volver” mười năm về trước, là một phim chắc tay, đảm bảo nó sẽ gợi cho bạn nhớ rằng điện ảnh Mỹ thời nay vẫn chưa có ai sánh bằng ông: một nghệ sĩ biết kiểm soát tác phẩm của mình, sử dụng phong cách phim phần lớn bắt nguồn từ những sản phẩm đình đám nhất của Hollywood kinh điển, và làm việc trong thế giới hư cấu của sự sáng tạo riêng.
Dĩ nhiên, Almodóvar không còn thời thượng như những khiêu khích hậu hiện đại trong “Matador”, “Women on the Verge of a Nervous Breakdown” hay “Tie Me Up! Tie Me Down!” Thế nhưng cái chất già dặn trong “Julieta” lại mang đến cảm giác trọn vẹn hơn, tinh túy hơn những phim kia; những ai không bị nhầm lẫn giữa cái vô lo vô nghĩ của tuổi trẻ với nghệ thuật đích thực đều có thể nhận ra điều đó. Chắc chắn, bất kỳ giáo viên dạy làm phim nào cũng cố gắng hướng dẫn một lớp những Orson Welles trẻ ngày nay bằng những mánh khoé của nghề phim nhưng ít có thể tìm thấy hình mẫu tốt hơn “Julieta.”
Cũng như hầu hết phim của Almodóvar, “Julieta” xoay quanh những người phụ nữ. Chuyện phim kể về nỗi đau của người mẹ bị chia cắt khỏi con mình mà không rõ nguyên cớ. Nhưng đây chỉ là mầm mống của một kịch tính dần dần phát triển phong phú hơn, ám ảnh hơn và phức tạp hơn như nhà làm phim đã trau chuốt cho nó.

Như thường lệ, phim mở ra với những hình ảnh đẹp nao lòng: những nếp vải dày màu đỏ quấn quít vào nhau như đôi tình nhân, rồi dần hiện ra là nếp váy của một phụ nữ đứng tuổi thuộc lớp trung lưu, Julieta (Emma Suárez). Cô đang quấn một bức điêu khắc nhỏ bằng tấm xốp khí. Nơi cô ở là một căn hộ trang nhã ở Madrid, và một người đàn ông tên Lorenzo (Darío Grandinetti thủ vai) ghé qua để bàn về kì nghỉ sắp tới đến Bồ Đào Nha. Nhưng chuyến đi chỉ mãi là dự định.
Đó là bởi vì cuộc sống tưởng chừng êm đềm hạnh phúc của Julieta đột nhiên chệch hướng sau cuộc gặp gỡ tình cờ với một cô gái ăn vận thời trang và nghe tin con gái mình hiện đang sống ở Lake Como và đã có ba con. Choáng váng khi biết chuyện (một tín hiệu cho thấy hai mẹ con đã rất lâu không gặp), Julieta rơi vào trầm cảm, những kí ức xưa chợt ùa về.
Ba mươi năm trước, Julieta (lúc này do Adriana Ugarte đóng) là một cô giáo dạy văn học cổ điển, quyến rũ và ưa mạo hiểm. Cô bắt một chuyến tàu đêm sẽ làm đời cô sang trang. Khó chịu vì bị một ông chú bắt chuyện mãi, cô chạy sang toa bar để rồi gặp chàng ngư dân điển trai tên Xoan (diễn viên Daniel Grao). Hai người họ ngủ với nhau đêm đó, nhưng vụ việc ông chú nọ tự tử đã gieo mặc cảm tội lỗi mà sau này sẽ phát triển thành những hình thức khác trong câu chuyện.
Câu chuyện kéo dài hằng năm trời và trải rộng qua nhiều bối cảnh. Julieta về ở cùng chàng Xoan trong ngôi nhà nhỏ xinh xắn cạnh bờ biển ở Galicia; nhưng cuộc sống cô không hề đơn giản với sự có mặt của bạn Xoan, nàng nghệ sĩ xinh đẹp do Inma Cuesta thể hiện, và bà quản gia giống như Bà Danvers4 (Rossy de Palma, diễn viên yêu thích của Almodóvar), bà này dường như phẫn nộ hạnh phúc của kẻ khác. Julieta và Xoan có với nhau một con gái, Antía. Tuổi thơ cô bé trôi qua hạnh phúc, nhưng một biến cố gia đình đã buộc họ chuyển đến Madrid khi Antía đang tuổi mới lớn. Kể từ đó quan hệ giữa hai mẹ con lao dốc không thể vãn hồi.
Một thời gian sau Antía bỏ nhà đi Pyreness để “sống ẩn dật”. Khi Julieta đến đón con, người ta bảo cô rằng em không muốn gặp cô nữa. Cô nhận ra rằng cuộc đời mình “thiếu một khía cạnh tâm linh”, và đã tìm ra thứ mình bỏ lỡ: niềm tin.

Tôi phải thú thực rằng không phải phim nào của Almodóvar cũng làm tôi hài lòng; thế nhưng một trong những niềm vui khi dõi theo sự nghiệp của ông đó là được chứng kiến ông lột xác, thay đổi không ngừng. Không có phim nào hoàn toàn giống phim nào. Về phần “Julieta”, Almodóvar đã nói trong buổi họp báo rằng: “Tôi đã đặt bản thân mình rất nhiều trong kết cấu hình ảnh, và trong sự mộc mạc, chân phương của các nhân vật phụ. Không có hát hò, cũng không lồng những cảnh phim khác để giới thiệu nhân vật. Phim không hề có yếu tố hài hay pha lẫn các thể loại khác, hoặc là tôi tin thế. Ngay từ đầu tôi đã xác định ‘Julieta’ là dòng phim chính kịch chứ không phải nhạc kịch, cho dù cá nhân tôi cũng yêu thích nhạc kịch. Nhưng ‘Julieta’ đích thị là một bộ phim chính kịch nghiêm túc pha lẫn chút bí ẩn: một ai đó đang tìm kiếm một ai đó mà không biết tại sao cô ta bỏ đi.”
Phát biểu trên đã cho ta một bức tranh cô đọng về sự khác biệt giữa “Julieta” và những tác phẩm cùng đạo diễn, nhưng “mộc mạc chân phương” không có nghĩa là tối giản theo kiểu Bresson5. Vẫn có chút hoa mỹ trong cách kể chuyện và phong cách thị giác, nhưng đó là sự hoa mỹ không loè loẹt và trơ trẽn. Phông nền đơn giản, nhã nhặn, được sắp đặt chính xác đến mức xứng tầm làm ví dụ trong các lớp học điện ảnh. Cùng với nhà quay phim Jean-Claud Larrieu và dựng phim José Salcedo, Almodóvar còn cộng tác với nhạc sĩ Alberto Iglesias, người đã sáng tác những bản nhạc phim mà theo tôi là hay nhất năm nay.
Hai nữ diễn viên thể hiện vai Julieta cũng xứng đáng được trao giải vì tài nghệ cá nhân tuyệt vời và vì cách mà Almodóvar hòa quyện hai kiểu diễn xuất lại với nhau. Thật lòng khi xem phim tôi cứ có cảm giác đó chỉ là một người được biến đổi bằng hóa trang và hiệu ứng, chứ không phải là hai diễn viên riêng rẽ. Sự chuyển tiếp mượt mà đó, bản thân nó đã là kì công rồi.
Kịch bản của Almodóvar dựa trên ba câu truyện của Alice Munro, nên có lúc ông đã dự tính quay tại quê hương Canada của bà, nhưng rốt cuộc quay về Tây Ban Nha, một quyết định xét cho cùng cũng hợp lí. Mặc dù có thể Almodóvar có cùng nguồn gốc Công giáo với Hitchcock và Bresson, nhưng sự liên quan của bộ phim với tội lỗi, những chuyển biến tâm lý, định mệnh, sự kì bí và niềm tin (chệch hướng hơn), kết nối phức tạp với văn hoá bản địa Tây Ban Nha cũng như những ý tưởng được thể hiện trong những tác phẩm trước đó của ông. Xây dựng trên tác phẩm trước đó đồng thời lại vạch ra một con đường mới là sự tự tin cố hữu của một bậc thầy xác tín.
Nguồn: www.rogerebert.com
Chú thích:
1, 2. Orson Welles là diễn viên, đạo diễn, biên kịch, nhà sản xuất phim người Mỹ từng được giải Oscar. “Công dân Kane” là bộ phim đầu tay của ông, được giới phê bình đánh giá là một trong những bộ phim xuất sắc nhất trong lịch sử điện ảnh.
3. John Ford: đạo diễn đặc biệt nổi bật trong thể loại phim miền Tây, có ảnh hưởng to lớn đến thế hệ làm phim sau này.
4. Bà Danvers: nhân vật phản diện trong tiểu thuyết Rebecca, tính tình nghiêm nghị lạnh lùng, không bao giờ cười.


5. Bresson: đạo diễn người Pháp, nổi tiếng với phong cách làm phim tối giản, kiệm lời, ít dùng nhạc phim.